Bài Viết by "Gương Sáng"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Gương Sáng. Hiển thị tất cả bài đăng

Tà Bội không phải là tên thật của ông. Ông tên Như Lại, nhưng hàng xóm quen thân phú cho cái tên dễ thương là Bội. Vì ông sống nghề đan tre nứa, làm bội - món đồ dùng để nhốt gà. Mà thật ra, đó cũng là nghề của mấy mươi năm về trước, khi ông còn trai trẻ. Bây giờ ông bệnh nhiều, không đan nổi nữa. Ông với bà sống trong căn nhà chật hẹp, xiêu vẹo, chẳng một mảnh đất canh tác…
Ông tân tòng Khmer 78 tuổi đạp xe 26 cây số đi lễ
Ông tân tòng Khmer 78 tuổi đạp xe 26 cây số đi lễ
Ông Bội ngụ tại xã Phú Tâm, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, một vùng thôn quê bình dị. Ông theo đạo được hơn chục năm. Để đi lễ, Chúa nhật mỗi tuần, ông phải thức từ rất sớm để vượt quãng đường 26 cây số đến nhà thờ Đại Tâm, tỉnh Sóc Trăng - nơi có cộng đoàn tín hữu Khmer hơn 500 người cùng sinh hoạt. Bà cụ sức khỏe yếu hơn nên không thể đến nhà thờ thường xuyên. Một mình ông với chiếc xe làm bạn, đôi chân chậm chạp vậy mà dường như chưa bao giờ ông bỏ lễ nào. Linh mục Phêrô Nguyễn Trung Viên, chánh xứ Đại Tâm kể về người giáo hữu trong họ với niềm cảm mến: “Nhà ông nghèo, giờ đang hư nát, có thể sập bất thình lình. Già rồi khó làm ra tiền, có bữa ông bà phải nhịn ăn. Ai giúp gì thì ông bà nhận nấy, sống thương yêu lắm. Ông theo đạo chắc cũng hơn chục năm, từ thời cha cố Phêrô Tống Văn Năm phụ trách ở đây. Tân tòng nhưng âm thầm, sốt sắng, chưa thấy vắng mặt tuần nào, dù mưa hay nắng. Mình đang vận động để sửa nhà lại cho ông”.
Ngày còn khỏe, cụ ông miệt mài trên chiếc xe đạp rong ruổi khắp các ngả đường làng bán bội, rổ rá. Khi về già, người bạn thân thiết này cùng ông đều đặn vượt khó đến thánh đường. Mấy chục năm gắn bó, xe cũng rệu rã, cũ kỹ, hao mòn… như chính thân xác cụ cũng đang yếu đi vì bệnh tật. Khoảng 2 tháng trước, cha xứ trao cho ông chiếc xe đạp mới, đi thoải mái hơn nhưng ông lại bùi ngùi cho biết nó khó sử dụng. Ông giải thích: “Tôi đi chiếc kia quen dù xe này mới, ít bị hư dọc đường. Mình tin Chúa, theo Chúa nên đường xa thì cũng đến đọc kinh, một tuần có một ngày Chúa nhật thôi hà, sao bỏ được. Đi mệt thì nghỉ chút, nghỉ rồi đi tiếp”.
Trong căn nhà ông Bội chẳng có gì giá trị, chỉ mấy cái ghế cây, bốn bên vách lá, rách nát. Gió từ cửa trước luồn qua cửa sau. Có lẽ thứ khiến ông tự hào nhất là có rất nhiều tranh ảnh Chúa - Mẹ, những xâu chuỗi mà ông lần hằng ngày…, bởi đức tin đã đỡ nâng ông trong suốt chặng dài, dìu ông đến gần bên Chúa. Biết hoàn cảnh hai cụ khó khăn nên họ đạo ưu tiên giúp đỡ. Mỗi khi có đoàn từ thiện về thì cũng dành phần cho ông trước. Ông Đàm Khải Hưng, một người quen biết, hay tới lui nhà ông Bội gởi trao các phần quà thiện nguyện cảm khái: “Đến nhà ông cụ, nhìn nhà trống trước hở sau, tôi thật chạnh lòng. Nhìn thấy nụ cười rạng rỡ nở trên khuôn mặt nhăn nheo, teo tóp, chúng tôi thấy thương mến ông vô cùng, muốn giúp nhiều hơn. Ông lớn tuổi, là người dân tộc Khmer, nhưng đã tin theo Chúa, mỗi tuần còn chịu khó đạp xe thiệt xa xem lễ, lễ xong thì về, chẳng hề than vãn với ai, thật nể phục!”.
HÙNG LUÂN

THÁNH GARCIA SAMPEDRO XUYÊN

Giám Mục phó Bùi chu, Tử Đạo.

(bị bắt 7-7-1858, phân thây 28-7-1858 tại Nam Ðịnh)

Ðức Cha Berrio-Ochoa kết thúc bài tường thuật về cuộc tử đạo hết sức anh hùng của Ðức Cha Sampedro như sau: "Cuộc tử đạo và xưng đức tin của ngài đã làm cho nhiều người trở lại đạo hơn nhiều năm làm việc giảng đạo". Thật vậy, đức cha chịu một hình khổ ghê gớm và lâu dài không những đã làm cho người Công Giáo thêm kiên cường xưng đạo mà còn làm cho người bên lương nhận ra đạo thật.

1. Cái chết đau đớn, nhục nhã: Sáng sớm ngày 28-7-1858, hai quan lớn cỡi voi, bốn người cỡi ngựa, bốn người khiêng chiêng trống cùng với 500 lính, 20 đao phủ áp giải Ðức Cha Sampedro, 37 tuổi, sau 20 ngày tù tội, và hai chú giúp việc ra pháp trường. Ðức cha mặc áo dòng, một tay cầm sách nguyện, một tay ban phép lành cho dân chúng hai bên đường, trên cổ đeo gông thật nặng và chân mang xích sắt kêu leng keng, nét mặt hân hoan như đi lãnh triều thiên chiến thắng. Ðoàn người đi qua nửa thành phố đến cửa đông ra ngoài thành.

Tới pháp trường quan ra lệnh cột hai chú vào hai cọc. Ðức cha khuyên bảo hai chú vững lòng chắc chắn về trời. Theo lệnh, lý hình chém đầu người thứ nhất tên Tiệp, tung đầu lên cao cho mọi người xem thấy rồi đến chú Hiền. Tới phiên hành quyết đức cha, quan ra lệnh trước hết chặt chân rồi đến tay, đầu và mổ bụng đốt ruột gan. Ðức cha bị trói chân tay vào các cọc và một tấm gỗ đè trên ngực. Năm tên đao phủ cầm búa bổ xuống dưới chân 12 nhát như bổ củi, trong khi miệng đức cha vẫn kêu to Thánh Danh Giêsu, máu chảy lai láng. Sau đó lý hình bổ bẩy tám nhát chặt tay. Sau khi chặt chân tay, lý hình bổ thêm 15 nhát chặt đứt đầu và lấy dao mổ bụng. Sau đó các phần thân thể được vất xuống hố, lấp đất và cho voi đạp lên. Còn đầu bêu ở trên cửa phía Nam thành Nam Ðịnh hai ngày, rồi bị đập nát thành mảnh vụn và quẳng xuống sông ban đêm.

2. Quê quán bên Tâybanha, hi sinh qua Bắc việt: Vị mục tử can đảm Melchior Garcia Sampedro sinh ngày 26-4-1821 tại San Pedro de Arrojo, Tây Ban Nha. Sau khi đậu tú tài thần học, cậu xin vào tu trong dòng Ða Minh tại Ocana năm 1845 . Ngày 29-5-1847 Thầy Sampedro được thụ phong linh mục và tình nguyện đi truyền giáo. Sau khi tới Manila dạy học một thời gian vắn, Cha Sampedro được như ước nguyện là đi truyền giáo ở Bắc Việt. Ngày 28-2-1849 cha tới Ðông Xuyên, nơi ở thường xuyên của Ðức Cha Hermosilla. Cha được Ðức Cha đặt tên cho là Xuyên, tên của con sông và dân làng. Sau khi họp công hội và phân chia địa phận, Cha Xuyên theo giúp cha bề trên giám tỉnh tại Nam Am cho tới tháng 3-1850 được Ðức Cha Sanjurjo, địa phận Bùi Chu, đặt làm bề trên chủng viện ở Cao xá.

Cha Sampedro hết lòng chu toàn bổn phận và đặc biệt có tinh thần khắc khổ, ham thích cầu nguyện và hãm mình ăn chay và đánh tội tùy theo mức độ cha linh hướng cho phép. Ðời sống thánh thiện của cha đã khiến bề trên cất nhắc lên làm tổng đại diện năm 1852. Cha Sampedro còn dành nhiều thời giờ để dịch các sách và dậy giáo lý cho 54 gia đình gần 500 người tại một làng gần Cao Xá. Ðức Cha Sanjurjo đã viết về công việc tông đồ của cha như sau: "Họ đạo mới lập này ngoài ơn Chúa phải kể công đầu cho Cha Sampedro, cha chính địa phận và bề trên nhà dòng, đã mở đường cho cuộc trở lại tập thể. Ngoài ra cha cũng giảng dậy cho ba bốn làng kế cận. Các dân làng thích nghe ngài giảng và mong muốn nhận lãnh phép rửa tội".

3. Trở thành giám mục phó Bùi chu: Trong hoàn cảnh cấm đạo, Ðức Cha Sanjurjo đã được phép tòa thánh chọn đức cha phụ tá và ngài chọn cha chính Sampedro. Lễ phong chức đã diễn ra tại Bùi Chu ngày 1-9-1855 khá long trọng. Chẳng bao lâu Ðức Cha Sanjurjo bị bắt ngày 21-5-1857. Ðức Cha Sampedro làm mọi cách để chuộc tự do cho đức cha kể cả việc vận động với sứ quán Tây Ban Nha và Pháp, nhưng tầu đến vịnh Bắc Việt thì Ðức Cha Sanjurjo đã bị chém đầu. Tình thế mỗi ngày một thêm trầm trọng, quan tổng đốc ra thêm nhiều lệnh truy lùng đạo trưởng và bắt mọi người phải đạp ảnh. Các xã trưởng phải làm tờ trình đã bỏ đạo và mỗi làng phải dựng chùa. Ðức Cha Sampedro vội phong chức giám mục phó cho Cha Valentino Berrio-Ochoa mới sang Việt Nam vào đêm ngày 13-6-1858 trong một nhà giáo dân.

4. Khiêm tốn và kính mến Đức Mẹ : Dù làm đầu địa phận, Ðức Cha Sampedro thường xin các cha khác chỉ vẽ các sai lỗi của mình và năng nhận mình là một tội nhân trước mặt mọi người. Ngoài việc mặc áo nhặm thường xuyên, đức cha còn có lòng kính mến Ðức Mẹ, đầu các thư viết bao giờ cũng có ghi tên Maria. Ðức cha thường khuyên nhủ người khác đừng bao giờ bỏ lòng tôn kính Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, chính ngài mỗi ngày lần hạt kính những sự thương khó của Ðức Mẹ.

Trước những cuộc lùng bắt thường xuyên của các quan, đức cha phải đổi chỗ trú ẩn luôn. Thế nhưng đêm ngày 7-7-1858, đức cha bị bắt với hai chú Ðominicô Tiệp và Ðominicô Hiên tại Kiên Lao. Khi làng Kiên Lao bị quân lính bao vây, đức cha đang trốn ở một nhà bên ngoài vòng vây. Ðức cha trốn trong hầm ở ngoài đồng và ban đêm dân chúng bị các quan hành hung chạy trốn ra ruộng lúa, đức cha cũng theo họ chạy ra ruộng lúa nhưng bị rượt theo, qua khỏi ba cánh đồng thì bị bắt. Hôm sau, 8-7, ngài bị áp giải về Nam Ðịnh. Ðức cha luôn luôn tỏ ra vui vẻ trong tù, chịu đựng mọi hành hạ.

5. Bị tra vấn và kết án: Các quan tra hỏi nhiều điều song đức cha chỉ một mực xưng đức tin và chối mọi điều các quan buộc tội cho. Các quan buộc cho ngài ba thứ tội: lén lút giảng đạo đã bị cấm, bí mật kêu tầu ngoại quốc đến và là thủ lãnh của một đảng phản loạn. Ðức Cha Sampedro hiên ngang nhận điều thứ nhất, còn điều thứ hai, đức cha nói rằng tầu ngoại quốc tới chỉ có mục đích duy nhất là xin tự do tôn giáo, điều buộc tội thứ ba hoàn toàn ngược lại với thư chung gửi giáo dân trong đó cấm người Công Giáo không được theo người làm loạn, nếu không tuân theo lệnh sẽ không được nhận các bí tích.

Dù biện hộ thế nào các quan cũng khép án như sau: "Luật pháp trong nước nghiêm cấm đạo Giatô, nhưng đạo trưởng Xuyên đã cả gan xâm nhập để lừa dối dân chúng từ chín năm nay. Theo như lời khai của chính tội nhân, hắn là thủ lãnh tín đồ Giatô ở các huyện Giao Thủy, Kiên Xương và Thái Bình cũng như các tín đồ ở tỉnh Hưng Yên, Hải Dương. Vì thế đạo trưởng tên Xuyên tội đáng phải chết. Tội của hắn còn nặng thêm vì đã bí mật sai người đi đem tầu Âu Châu tới để xúi dục dân chúng làm loạn như nhiều người phản nghịch đã khai". Bản án của các quan tỉnh Nam Ðịnh được vua Tự Ðức phê: "Như đã bắt được đạo trưởng Âu Châu thì phải chém đầu và bêu đầu ba ngày rồi ném xuống sông. Thế nhưng vì tên nghịch này đã lập đảng và đứng đầu nên tội ra nặng thêm. Trong khi tra khảo, nó chối tội ác này nhưng những người khác đã xưng ra. Phải coi hắn là đầu đảng nghịch và chiếu theo luật pháp thì phải xử phân thây. Ðầu phải bêu ba ngày rồi bỏ xuống sông để mọi người biết rõ lề luật".

Hài cốt của vị chủ chăn anh dũng sau khi bị chôn ở hố được giáo dân đem về chôn ở Bùi Chu. Năm 1888, Ðức Cha Venceslao Onhate cho phép mang di hài về quê quán ở Oviedo chỉ giữ lại cánh tay mặt ở Bùi Chu và cánh tay trái ở nhà dòng Ða Minh tại Manila.

Trước khi có thể nói sõi, cô Camila Holanda đã biết hát. Không phải là những bài hát trẻ con, mà là những bài hát về Đức Mẹ.

Dưới sự dẫn dắt của người bà, cô Holanda đã có một sự nghiệp ca hát chuyên nghiệp thành công từ tuổi lên 2. Năm 2015, cô ca sĩ - nhạc sĩ người Brazil đã phát hành album đầu tay của mình ở tuổi 15, với 11 bài hát, gồm các bài nguyên gốc và các bản cover.

Sự mến mộ Đức Mẹ đã thể hiện qua các tựa đề cô lựa chọn như “Queen Mother” và “From Son to Mother”. Cô nói rằng, vai trò của Chúa Giêsu và Đức Mẹ luôn nằm ở “trung tâm cuộc sống” của cô. Holanda mong muốn chia sẻ điều này với bất kỳ ai muốn lắng nghe.
Trong album “Safe Place” sắp tới, Holanda tiếp tục muốn làm điều mà cô đã làm từ nhỏ đến giờ: thể hiện giọng ca của mình trong vòng tay mở rộng của Đức Mẹ.


26 tuổi, từ bỏ tất cả để vào nhà dòng


Điên dưới mắt người đời nhưng không điên dưới mắt Chúa.
Sau nhiều năm nhận định, Stéphanie, một cô giáo trẻ có quyết định dứt khoát cho đời mình: vào nhà dòng để tận hiến đời mình cho Chúa. Chúng tôi đã gặp cô vài ngày trước khi cô vào cộng đoàn Biển Đức ở đan viện Đức Bà Pesquié vùng Ariège.
Aleteia: Lúc nào là lúc cô thấy mình có đức tin thật?
Stéphanie: Tôi chưa bao giờ «mất đức tin». Sau khi chị tôi mất, đức tin mơ màng của tôi bỗng thức dậy: tôi bắt đầu có lòng tin sâu đậm và mong tiến triển trên con đường thiêng liêng trong suốt cuộc đời của tôi. Năm 2005, tôi mất chị tôi khi chị trên đường đi dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Cologne. Biến cố này chắc chắn đã đóng một vai trò quyết định trong nhận định của tôi. Cái chết của chị đã là bước ngoặc trong đời sống thiêng liêng của tôi. Tôi nhận ra tầm quan trọng của đời sống chúng ta, rằng chúng ta chỉ ở trên Quả đất này một thời gian có giới hạn, rằng chúng ta đến từ Chúa và có ngài chúng ta sẽ trở về với Ngài. Dù tôi ở trong một gia đình giữ đạo sốt sắng nhưng tôi nghĩ tôi chỉ đi nhà thờ vì thói quen, vì bắt chước.

Khi nào ý tưởng vào nhà dòng bắt đầu nhen nhúm trong lòng cô?
Vài năm sau, năm 2008, trong một lần đi hành hương và khi tham dự thánh lễ, tôi cảm nhận có sự cuốn hút của Chúa và tôi có ước mong mãnh liệt được yêu Ngài. Lúc đó tôi cảm nhận tôi khát khao một Đấng Tuyệt Đối. Từ đó ý tưởng tận hiến đời mình cho Chúa và vào dòng tu càng ngày càng cấp bách. Tôi nhận ra có một tình yêu đích thực của Chúa, như thử tôi phải lòng Ngài. Mỗi ngày tôi cảm thấy cần phải đi lễ, cần bỏ thì giờ ra để ở gần Ngài.
Ước muốn lớn lao này chỉ kéo dài vài tháng. Sau đó năm tháng trôi qua: tôi để một bên chuyện này dù thỉnh thoảng nó cũng trở lại trong đầu tôi. Tôi bắt đầu đi dạy học và có cuộc sống của một cô gái Paris. Tôi hạnh phúc nhưng không thật sự trọn vẹn. Với thời gian, ước muốn đặt Chúa vào trọng tâm cuộc đời lớn lên. Tôi bắt đầu đọc hương nguyện mỗi buổi sáng, tôi cầu nguyện xin Chúa giúp tôi định hướng đời mình. Khi thấy tôi đi tĩnh tâm, linh mục hướng dẫn đời sống thiêng liêng của tôi hỏi vì sao tôi không tận hiến đời tôi cho Chúa. Ý tưởng này chưa bao giờ ra khỏi hẳn đầu tôi nhưng bây giờ nó trở thành một chuyện hiển nhiên… Sự hiển nhiên này thật chóng mặt! Tôi khao khát Chúa nhưng đứng trước một lựa chọn tận căn như vậy thì thật khó để quyết định.
Ai là người đầu tiên cô báo quyết định này?
Đầu tiên hết tôi báo cho bà giám đốc của tôi, trước khi báo cho gia đình hay cho cha thiêng liêng! Bà quá bàng hoàng. Cha mẹ tôi nghe tin này thì ông bà vui và cảm động vì biết rằng từ nay họ sẽ ít gặp tôi. Nhưng tôi ngưỡng phục lòng can đảm và đức tin của họ. Mẹ tôi thố lộ, bà luôn thấy các con của mình là món quà Chúa ban cho và rốt cùng thì các con cũng thuộc về Chúa.
Các thánh nào đã hướng dẫn cô trong suốt quá trình thiêng liêng này?
Thánh Têrêxa đã giúp tôi sống trong giây phút hiện tại. Qua thánh nhân, tôi ý thức được sự nhỏ bé của tôi đứng trước Tình yêu của Chúa… Thánh Bênêđictô hướng dẫn tôi khi tôi quyết định dứt khoát vào ngày lễ của ngài. Tôi rất thích kinh cầu nguyện xin từ bỏ của Chân phước Charles de Foucauld, tôi cố gắng đọc mỗi ngày.
Cô có cái nhìn như thế nào về cuộc sống cô sắp từ bỏ: các buổi đi chơi đêm, đời sống hàng ngày, các quan hệ tình cảm… cô có nhớ chúng không?
Không. Thành thật mà nói, đối với tôi, cuộc sống này có vẻ hơi phù phiếm một chút. Không phải nơi cuộc sống này mà mình có thể tìm được hạnh phúc, nhưng đúng hơn là phải tìm trong các quan hệ sâu đậm. Đức tin của tôi hướng dẫn tôi không sống hời hợt vì mình sẽ không tìm được Chúa ở đó… Tôi sẽ nhớ những giây phút sống với gia đình, với bạn bè, tôi ý thức là mình phải từ bỏ nhiều chuyện, nhưng tôi biết một cách xác thực là tôi sẽ thiếu điều cốt tủy, mà ở đan viện tôi mới tìm thấy được. Đúng là dưới mắt người đời, từ bỏ mọi sự ở xã hội này là điên, nhưng dưới mắt Chúa thì không điên chút nào.
Theo cô, các nữ tu mang lại gì cho xã hội?
Các nữ tu vừa lánh xa thế giới nhưng lại vừa rất gần với thế giới này. Họ biết các chuyện thời sự và không bỏ một giây phút nào mà không cầu nguyện cho toàn nhân loại. Lời cầu nguyện của họ rất quan trọng, đó đúng là lối đi đích thực của điều vô hình: không một ai thấy họ nhưng họ lại rất cần thiết cho xã hội. Chúng ta sống trong một thế giới chuộng cá nhân chủ nghĩa và không có các điểm mốc, nhưng thế giới này chưa bao giờ cần sự hiện diện của đời sống thiêng liêng và lời cầu nguyện của các tu sĩ như bây giờ.
Marta An Nguyễn chuyển dịch

“Tôi biết có một phụ nữ mang thai, khi bà đi siêu âm, các bác sĩ nói với bà rằng các cơ phận của thai nhi không phát triển bình thường và đứa trẻ có lẽ sẽ không sống được một năm sau khi sinh. Rồi họ đã khuyên bà nên phá thai.
 Người phụ nữ đó chính là mẹ của tôi và tôi là đứa trẻ đó.” Đó là chứng từ của cha Martino Choi, cha sở của giáo xứ thánh Patrick ở Rockville, bang Maryland, Hoa kỳ. Trước 18 ngàn bạn trẻ và người lớn tại cuộc biểu tình và Thánh lễ vì sự sống dành cho người trẻ được tổ chức tại thủ đô Washington, Hoa kỳ, cha Choi đã trình bày chứng tá của mẹ mình trong quyết định bảo vệ sự sống.
Cha Choi kể tiếp rằng các bác sĩ nói với mẹ của cha là phá thai sẽ bảo vệ đứa con và người mẹ khỏi những đau khổ không cần thiết. Vị linh mục trẻ nhận định: “Ma quỷ biết cách che đậy, ngụy trang cho sự ác bằng một lời nói dối rằng dù sao chết vẫn tốt hơn là sống. … nhưng sự chết không bao giờ tốt hơn sự sống.”

Cha Choi cũng chia sẻ những câu chuyện mà cha đã trải qua tại giáo xứ của cha, nơi cha đã cố vẫn cho những cha mẹ bị mất những đứa con chỉ mới nhìn thấy ánh mặt trời vài ngày hay vài tháng. Cha nói: “Không có gia đình nào đến với tôi và nói ‘Cha biết không thưa cha, chúng con ước là chúng con đã không có đứa trẻ này. Chúng con ước giá như chúng con không phải đau khổ vì điều này.’ Không có ai trong họ nói những điều như thế. Tất cả họ nói: ‘Cám ơn Chúa là chúng con đã yêu thương đứa trẻ này, dù cho là chỉ một ít ngày.’” 

Cha Choi kể tiếp: “Có một gia đình có đứa con không bao giờ được rời bệnh viện cho đến khi qua đời, họ đã nói rằng cuộc sống chỉ kéo dài 3 tháng của đứa con trai đã dạy cho họ về sự sâu sắc của tình yêu cũng như lòng can đảm, điều mà họ đã không thể hiểu được trước khi đứa con ra đời.” 

Những câu chuyện của cha Choi vang dội trong lòng các bạn trẻ đến từ các giáo phận trên khắp Hoa kỳ và cả quốc tế đển thủ đô để tham dự Thánh lễ vì sự sống. 

Kelly Lambers, một học sinh trung học thuộc tổng giáo phận Cincinnati đã chia sẻ: “Mẹ của cha đã không từ bỏ cha ngay cả khi bà biết là con của mình sẽ không sống lâu, nhưng giờ đây hãy nhìn vào cha kìa; cha là một linh mục!” Lambers đã cùng với các bạn học của mình tại trường trung học Mẹ lòng thương xót đi xe buýt 9 tiếng để tham dự cuộc tuần hành vì sự sống. Cô cảm thấy hãnh diện rất nhiều vì các bạn của cô mang bảng hiệu “Ủng hộ sự sống là ủng hộ người nữ.” 

Tajil Baptiste là một người trẻ đến từ quần đảo Virgin. Anh đã chia sẻ tại sao anh và các bạn đến thủ đô Washington để tham gia cuộc tuần hành vì sự sống. Anh nói: “Đối với chúng tôi, đó là một sự kiện tôn giáo. Đi thật xa từ hòn đảo nhỏ đến đây, nhưng sứ điệp mà chúng tôi mang về cho cộng đoàn và giáo xứ chúng tôi là “Hãy ủng hộ sự sống, hãy thay đổi thế giới.” 

Cuộc tuần hành vì sự sống năm nay là lần thứ 45 nó được tổ chức, có chủ đề “Tình yêu cứu giữ sự sống”. Có một điều đặc biệt là từ Nhà Trắng – dinh tổng thống, tổng thống Donald Trump đã ngỏ lời trực tiếp với các tham dự viên qua hệ thống vệ tinh. Ông nói: “Tôi muốn cám ơn mọi người ở đây hôm nay, những người hoạt động với trái tim vĩ đại để bảo đảm cho các phụ huynh có được sự chăm sóc và ủng hộ cần thiết để họ chọn sự sống. Chính nhờ các bạn, hàng ngàn người Mỹ được sinh ra và đạt được sức mạnh đầy đủ mà Chúa ban cho họ … Các bạn là những chứng nhân sống của chủ đề “Tình yêu cứu giữ sự sống.” 

Nghị viên Jaime Herrera Beutler cũng kể lại câu chuyện gia đình mình trước sự hiện diện của gia đình, trong đó có đứa con gái Abigail 4 tuổi, đứa con được coi như là của phép lạ. Bà Beutler kể rằng khi bà đang mang thai cháu Abigail, kết quả siêu âm là một tin thất vọng – con gái của họ không phát triển các cơ phận bình thường trong lòng mẹ và hầu như nó sẽ bị ngộp thở và chết ngay khi được sinh ra. Con gái bà được dự đoán là có 0% hy vọng. Các cha mẹ ở trong trường hợp này thường chọn phá thai. Bà Beutler kể tiếp: “Chúng tôi đã cầu nguyện, đã khóc và trong sự suy sụp đó, chúng tôi đã nhìn thấy Chúa.” Không muốn phá thai, vợ chồng bà đã tìm bác sĩ và các trị liệu để có thể cho con gái họ cơ hội sống. Bà khẳng định rằng chính tình yêu dành cho con gái và việc không muốn đầu hàng, đã cứu mạng con gái. Cuối cùng với sự can thiệp thần linh và một số bác sĩ can đảm sẵn lòng chịu nguy hiểm, gia đình bà đã có được con gái Abigail, nay là đứa trẻ 4 tuổi khỏe mạnh. (CNA 19/01/2018) 

(Vatican 25/01/2018)
Hồng Thủy
Nguồn tin: Radio Vaticana:

fr.aleteia.org, Mathilde de Robien, 2018-01-18
Video chỉ ngắn hai phút nhưng cho chúng ta thấy “dễ thương thì thật dễ dàng” và mời gọi chúng ta tìm lại tâm hồn tuổi thơ
Câu chuyện bắt đầu vào tháng 12  năm 2017 ở quận Essex, phía bắc thủ đô Luân Đôn nước Anh. Em Jacob mới 7 tuổi, khi em thấy một nhóm người vô gia cư co ro lạnh lẽo dưới giàn xây trong khu phố của em, em vội chạy về nhà viết tờ giấy để báo cho các nhà láng giềng: em giải thích em muốn gom thức ăn và vật dụng đầy cho 10 túi xách lưng! Hàng xóm láng giềng của em xúc động trước nghĩa cử của một cậu bé còn nhỏ nhưng có quả tim rộng lớn, họ chêm đầy 130 túi xách lưng! Lòng quảng đại mời gọi lòng quảng đại! 
Tìm lại tâm hồn tuổi thơ
Văn hào Charles Péguy đã viết: “Có một cái gì còn xấu hơn một tâm hồn tội lỗi. Đó là có một tâm hồn đã lờn quen”. Đôi khi, sự khốn cùng không còn làm cho ai xúc động. Người ta đã quen. Dù vậy, người chịu cảnh khổ thì họ không quen.
Trong cuốn video, ông Dave người nhận một túi xắc cho biết, hiếm khi ông nhận một cử chỉ dễ thương từ người khác: “Không phải do lỗi tôi mà tôi thành người vô gia cư. Thật dễ chịu khi thấy có người không chỉ trích mình vì mình là người vô gia cư”.
Tâm hồn em Jacob không “quen”. Em có tâm hồn trẻ thơ, em theo con đường trẻ thơ, đơn sơ trong tình yêu, con đường của những “đức hạnh nhỏ” như Thánh Têrêxa Hài đồng gọi là “Con đường Nhỏ”, con đường đã dẫn Thánh Têrêxa thành một trong các thánh lớn của thời đại.
Marta An Nguyễn dịch

Ông Seth Barnes, công dân Mỹ vừa chia sẻ trên trang nhà mình – Radical Living blog – điều tuyệt vời mà ông chứng kiến: ‘phép lạ hóa bánh’ đã xảy ra tại Hy Lạp.

Các tình nguyện viên Mục vụ Radical Living giúp đỡ dân tị nạn

Chúng ta đều biết câu chuyện nổi tiếng trong Kinh Thánh về phép lạ Chúa Jesus đã làm: Ngài hóa 5 cái bánh và 2 con cá cho cả “đoàn dân đông” hơn 5.000 người đi theo Ngài. “Đến chiều tối, các môn đồ đến thưa với Ngài: “Nơi này hoang vắng, trời tối rồi, xin Thầy cho dân chúng về để họ vào làng mua thức ăn” (Matthew 14:15). Và “Đức Chúa Jesus phán: Họ không cần phải đi đâu; chính các con hãy cho họ ăn. Các môn đồ thưa rằng: Ở đây, chúng con chỉ có năm cái bánh và hai con cá. Ngài phán: ‘Hãy đem đến đây cho Ta’. Sau khi truyền cho dân chúng ngồi trên bãi cỏ, Ngài lấy năm cái bánh và hai con cá, ngươc mắt lên trời tạ ơn rồi bẻ bánh ra trao cho môn đồ, họ phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no nê. Họ thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn khoảng năm ngàn, không kể phụ nữ và trẻ em” (câu 16-21).

Ông Seth Barnes và các con

Sau cuộc hành trình vượt Địa Trung Hải, tại Lesvos, Hy Lạp, nhóm tình nguyện viên Mục vụ Radical Living của Seth Barnes thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ cho người tị nạn đang chạy trốn khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Tại Moria, “có tới 400 người đang đói khát, cần thức ăn và nước uống, nhưng chúng tôi chỉ đủ lương thực cung cấp cho tối đa 200 người” – ông Seth chia sẻ.
Cô Dayna Bickam – một thành viên của nhóm kể: “Gần 400 người đang đói, trong khi thức ăn chúng tôi mang theo chỉ đủ cho 200 người. Tất cả các phần ăn được đựng trong 7 cái sọt, chúng tôi mang ra và bắt đầu cầu nguyện cảm tạ Chúa, xin Ngài chu cấp”.
Chỉ vào các sọt đựng những phần thức ăn còn thừa, cô Dayna tiếp: “Đây là những sọt còn lại sau khi chúng tôi đã phân phát hết. Đó là những phần chưa có người nhận. Khi chúng tôi thu gom tất cả các phần thừa, và nhận thấy có đến 10 sọt như vậy. Chúng tôi biết đó là quyền năng Chúa. Ngài có thật, là Đấng Sống và Đấng tốt lành”.
Có 400 người với 7 sọt thức ăn chỉ đủ cho 200. Sau khi phân phát và mọi người đã ăn no nê, còn thừa lại 10 sọt. Chúa của chúng ta vẫn đang làm phép lạ mỗi ngày, ở khắp mọi nơi. Hallelujah!
Linh Ân dịch

Ngày nọ, Wei chia sẻ sự thất vọng cùng nỗi lo lắng của mình với một người bạn Cơ đốc, và nhận ra những gì anh đã bỏ lỡ, thiếu mất. Anh dâng cuộc đời mình cho Chúa và Ngài đã giúp anh trở thành nhà sản xuất cà phê hàng đầu ở Trung Quốc.
Ở bất cứ nơi nào tại Bắc Kinh, bạn sẽ thấy những chiếc xe máy màu vàng thật đáng yêu. Chúng góp phần trở thành điểm hấp dẫn của thành phố hiện đại này.
Cách đây 1 năm, khi những chiếc xe máy đặc biệt này được giới thiệu ở Trung Quốc (TQ), nhiều người cảm thấy kỳ lạ, chưa quen, nhưng nay chúng đã trở thành phương tiện giao thông phổ biến và thuận tiện nhất tại đất nước này. Người Bắc Kinh say mê chúng. Một phụ nữ nói với CBN News: “Đi bất cứ đâu, tôi đều thích dùng nó. Chúng làm cuộc sống dễ dàng hơn bằng màu sắc tươi sáng, làm Bắc Kinh trở nên hấp dẫn và hiện đại hơn!”.
Và còn một điều khác nữa mà những chiếc “xe máy vàng” này mang lại: nó giao cà phê khắp Bắc Kinh.
Wei Han Ye là người Bắc Kinh. Năm 19 tuổi, anh bỏ cả tâm huyết cho việc kinh doanh cà phê do bị mê hoặc bởi mùi thơm và hương vị tuyệt vời của nó. Wei nói với CBN News: “Lần đầu nếm cà phê, tôi bị cuốn ngay theo hương vị của nó. Lúc đó Starbucks vẫn còn rất mới mẻ ở TQ. Người TQ không hiểu làm thế nào loại thức uống phương Tây này lại được đánh giá cao như thế”.
Quyết tâm tìm hiểu thêm về cà phê, Wei học cách pha chế, thậm chí khám phá ra công thức độc đáo riêng mình. “Tôi đeo đuổi đam mê, nhưng thật không dễ dàng. Khi đối mặt với trở ngại, tôi thất vọng, biết rằng mình có thể nhưng vẫn có gì đó thiếu thiếu…”. Wei bắt đầu dành nhiều thời gian cho nó hơn gia đình. Anh không còn là người của gia đình, không quan tâm đến hôn nhân, con cái…
Ngày nọ, Wei gặp một người bạn theo đạo Chúa và anh chia sẻ nỗi thất vọng, lo lắng của mình. Sau cuộc nói chuyện dài, Wei nhận ra những gì mình đã bỏ lỡ, thiếu mất; và anh quyết định dâng cuộc đời mình cho Chúa.
Từ đó, Chúa đã mở đường, giúp anh trở thành nhà sản xuất cà phê thành công.
Anh nắm bắt cơ hội, mở cửa hàng tại những khu vực phổ biến nhất của Bắc Kinh, và việc kinh doanh bắt đầu phát triển. “Giống như Thiên Chúa đột nhiên mở vòi nước. Mọi người bắt đầu kéo đến quán, và tôi bị choáng ngợp bởi những lời chúc phúc và sự chu cấp của Ngài” – anh chia sẻ.
Sau 10 năm, Wei rất biết ơn những gì Chúa đã ban cho anh, anh bắt đầu mời khách lắng nghe câu chuyện của mình và tìm hiểu thêm về Chúa Giê su.
Đền thờ và việc thờ cúng tổ tiên rất phát triển ở TQ, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nhiều người trong số họ chưa bao giờ được nghe, chưa bao giờ biết đến Phúc Âm. Wei nói với CBN News rằng khi mọi người hỏi anh làm thế nào thành công, anh cẩn thận giải thích rằng đó không phải do sức riêng mình, nhưng do anh kính sợ Chúa.

ĐỨC TIN VÀ HÀNH ĐỘNG
Mỗi tối thứ Sáu, Wei mở lớp học Kinh Thánh tại quán cà phê và say mê chia sẻ Lời Chúa với khách. 
Cô Zhang Rui – một Cơ đốc nhân rất thích học Kinh Thánh với Wei tại quán cà phê. “Wei là giáo viên tuyệt vời” – cô nói. “Anh ấy rất kiên nhẫn giải thích về Kinh Thánh cho chúng tôi. Những câu chuyện của anh về Chúa đã đụng chạm tôi”.
Cố gắng kiếm sống ở các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải không dễ. Wei nhận thấy hàng ngàn người TQ đang đổ xô về Bắc Kinh để theo đuổi ước mơ riêng mình; và anh đang có kế hoạch mở thêm nhiều quán cà phê nữa trên toàn quốc.
Mục đích mời những người yêu thích cà phê đến quán và cho họ cơ hội biết Chúa. Wei nói: “Thành công không dễ dàng, nhưng mọi người đều có cơ hội đạt được ước mơ bằng cách biết Chúa và đi theo các nguyên tắc của Ngài”.
Diệu Trang dịch
(Nguồn: cbn.com)


Tỷ phú Chuck Feeney là người đầu tiên ở Mỹ bỏ ra số tiền lớn là tài sản của mình để làm từ thiện . Ông chính thức rỗng túi, đi ở thuê vào tuổi ngoài 80, nhưng đã hoàn thành khát vọng “cho đi khi còn đang sống”.

“James Bond” của giới từ thiện.

Tỷ phú Charles F. Feeney (1931) là một người Mỹ gốc Ireland. Ông thường được gọi với cái tên thân mật Chuck Feeney, thời gian gần đây ông được giới truyền thông Mỹ đặt cho biệt danh “James Bond của giới từ thiện”.

Vị tỷ phú Mỹ này nói thông thạo 2 tiếng Pháp và Nhật, là người xây lên đế chế các cửa hàng miễn thuế. Từ nhỏ, ông đã nghỉ ra đủ mọi cách để kiếm tiền như: gõ cửa từng nhà để bán thiệp Giáng sinh, dọn tuyết trên đường hay nhặt bóng trên sân golf.

Charles F. Feeney bắt đầu sự nghiệp kinh doanh cùng với bạn học cùng đại học từ đầu thập niên 1950: bán rượu không thuế cho thủy thủ Mỹ. Sau đó, ông bán xe hơi cho cho lính Mỹ và lập nên chuỗi cửa hàng miến thuế (DFS) ở các cửa khẩu, với doanh thu đạt 3 tỷ USD/năm.

Vào những năm 60, khi Nhật Bản tổ chức thế vận hội và dỡ bỏ hạn chế du lịch nước ngoài, Chuck Feeney đã chộp cơ hội này để thu tiền của khách du lịch Nhật. Đó là những khoản tiết kiệm khổng lồ người Nhật bỏ ra mua sắm rượu, nước hoa, đồ trang sức miễn thuế,... tại các địa điểm nổi tiếng như Hawaii, Hong Kong, San Francisco, Saipan và Guam.

Mặc dù kiếm được rất nhiều tiền từ rất sớm, với tổng tài sản theo New York Times lên tới 8 tỷ USD, nhưng Chuck Feeney có cuộc sống riêng tư rất bình lặng và đơn giản, không xa hoa, không bao giờ thắt cà-vạt Hermes hay mang giày Gucci.

New York Times tiết lộ, trong nhiều năm ở New York, bữa trưa của ông không phải ở các nhà hàng sang trọng mà là ở khu nhà Irish Pavillion Tommy Makem trên phố East 57th - nơi ông ăn bánh mì kẹp thịt.

Feeney kín tiếng tới mức, mãi tới 1988, thế giới mới biết đến sự giàu có của ông. Khi đó, lần đầu tiên Forbes ước tính Feeney có khoảng 1,3 tỷ và xếp thứ 31 tại Mỹ. Tuy nhiên, tài sản thực của ông vẫn là một ẩn số, chỉ sau những lần làm từ thiện, thế giới mới biết được.

Công chúng còn kinh ngạc về cuộc sống giản dị và tiết kiệm tới mức tối đa. Ông keo kiệt với bản thân, gia đình nhưng hào phóng với người dưng. Ông ghét sự phung phí, không muốn con cái trở thành con nhà giàu hư hỏng và bắt chúng làm hầu bàn, bồi phòng khách sạn, thu ngân trong các kỳ nghỉ hè ngay từ khi còn nhỏ.

Sự hà khắc của Feeney không làm cho con cái khó chịu, thậm chí con gái đầu của Feeney còn cho rằng, cách làm của người cha đã giúp họ sống như những người bình thường khác, làm được việc đáng làm và vẫn có đủ tiền để chi tiêu cho cuộc sống.

Theo quan điểm của vị tỷ phú này, “bạn chỉ có thể mặc một chiếc quần vào cùng một thời điểm”. Ông thích kiếm tiền nhưng không muốn sở hữu chúng, tiền quá nhiều cũng không thể đem ra tiêu xài hết. Một thời gian dài, ông sống trong căn hộ đi thuê và toàn bộ tài sản được dần hiến tặng cho các tổ chức từ thiện. Các con ông cũng phải tự lăn lộn kiếm sống khi đến tuổi trưởng thành. Feeney cho biết, đây chính là cách để ông giáo dục các con biết quý trọng giá trị của đồng tiền.

“Sinh ra tay trắng thì khi trở về cũng phải trắng tay”.

Suốt hơn 30 năm qua, Chuck Feeney đã đi khắp thế giới để làm từ thiện từ tài sản 8 tỷ USD của mình, tập trung và giáo dục, khoa học, chăm sóc y tế,... tại Mỹ, Úc, Việt Nam , Nam Phi và Ireland.

Quỹ từ thiện Atlantic Philanthropies do ông sáng lập đã rót khoản tiền cuối cùng trị giá 7 triệu USD vào cuối 2016 cho Đại học Cornell nhằm hỗ trợ sinh viên làm công tác dịch vụ cộng đồng. Chuck Feeney đã hoàn thành khát vọng “cho đi khi còn đang sống” và chính thức rỗng túi.

Trả lời trên tờ New York Times, ông Feeney cho biết: “Bạn luôn lo lắng khi phải quản lý quá nhiều tiền như thế, nhưng chúng tôi dường như đã làm việc đó khá tốt”.

Tới đầu 2017, tổng giá trị tài sản còn lại của Feeney là hơn 2 triệu USD. Hiện ông và vợ (Helga) đang sống trong một căn hộ thuê ở San Francisco.

Tại Việt Nam, quỹ Atlantic bắt đầu rót tiền vào chỉ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, tài trợ bắt đầu từ miền Trung như xây dựng trường Đại học Đà Nẵng.

Cho đến nay, 2 người còn gái của ông là: Diane Feeney và Juliette Feeney cũng tiếp tục theo gót cha làm từ thiện. Họ làm chủ tịch của một số tổ chức từ thiện của gia đình và cộng đồng.

Quỹ Atlantic Philanthropies của Feeney bắt đầu sứ mệnh “làm rỗng túi” từ năm 1982 với ước mơ muốn tạo ra sự thay đổi lớn cho cuộc sống của những người gặp khó khăn. Ông ước mơ mang lại hòa bình cho Bắc Ireland, hiện đại hóa hệ thống chăm sóc y tế của Việt Nam hay biến Roosevelt Island của New York trở thành một trung tâm công nghệ.

Tỷ phú Chuck Feeney đã quyên tặng tổng cộng 8 tỷ USD tài sản và giờ chỉ còn lại 2 triệu USD.

Cho đến nay, Feeney đã xây cả ngàn tòa nhà khắp châu lục, nhưng tên của ông không hề xuất hiện trong bất cứ công trình nào, từ trên các viên đá ốp tòa nhà hay trong các văn bản. Trong nhiều năm, quỹ Atlantic Philanthropies của Feeney yêu cầu những người được hưởng lợi không được công khai sự tham gia giúp đỡ của họ.

“James Bond” của giới từ thiện cho biết, ông làm từ thiện và quyên tặng hết tài sản rất đơn giản là bởi vì, “vải liệm không có túi”, người chết ra đi không mang được gì. Con người “sinh ra tay trắng thì khi trở về cũng phải trắng tay”.

Khối tài sản lớn cuối cùng được Chuck Feeney quyên tặng vào cuối năm ngoái. Ông Feeney giờ 86 tuổi và quỹ Atlantic Philanthropies theo kế hoạch sẽ đóng cửa vào năm 2020.

Giàu có không lộ diện, nhiều tiền không tiêu xài sang, làm từ thiện không cần ghi danh nhưng những việc làm của ông được cả thế giới biết đến. Hành động cao cả của Feeney là động lực cho nhiều người, là nguồn cảm hứng cho cả những người rất giàu có và nổi tiếng, cũng hay làm từ thiện như Bill Gates và Warren Buffett.

Trong khi hầu hết trẻ em ở tuổi của em đang chơi game thì William Maillis 9 tuổi đang học vật lý thiên văn tại đại học. Mục đích của em?: Chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Thần đồng 9 tuổi chỉ có một mục đích Chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa
churchpop.com, 2116-10-03

Maillis là con út trong gia đình có ba người con, cha của em là một mục sư Chính Thống. Cha mẹ em đã thấy em rất đặc biệt khi em mới 6 tháng tuổi. Mới 7 tháng em đã nói chuyện trọn câu. 21 tháng em làm được toán cọng; em biết đọc, biết viết và làm toán nhân lúc 2 tuổi; làm toán đại số, ngôn ngữ ký hiệu, và đọc tiếng Hy Lạp khi 4 tuổi; hình học khi 5 tuổi và lượng giác khi 7 tuổi.
Sau khi học xong lớp 3, cha mẹ em và em cùng học chung lớp 4 và trung học. Mùa thu này, em sẽ lên đại học.
Cha mẹ của em xem khả năng của con mình như món quà của Chúa và phải được dùng cho tốt.
Cha của em nói: “Tôi chỉ muốn William ý thức cao món quà của em, tôi nghĩ em sẽ ý thức được”. Tôi nói với con: “Chúa ban cho con một món quà. Điều xấu nhất là từ chối món quà đó và không dùng nó để cải thiện thế giới.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
Nguồn tin: Phanxico

Lòng Chúa Thương Xót cứu một người thờ Satan


Bà Tess Poling, thành viên ban giám đốc của mạng lưới Hỗ trợ Lòng Thương Xót của Giáo phận Sacramento ở California, Mỹ.
Thái Hà (29.01.2016) – Một giáo dân có lòng sùng kính Lòng Chúa Thương Xót ở Mỹ, hôm 17/1 đã kể lại câu chuyện mà bà gọi là “phép lạ của Lòng Thương Xót” bên lề Đại hội Tông đồ Thế giới lần 4 về Lòng Thương Xót (WACOM) ở Philippines.
Đó là câu chuyện về một tù nhân trẻ người Mỹ, người tuyên bố ông đến từ một nhánh tôn thờ Satan nhưng sau đó đã có một cuộc hoán cải đầy ấn tượng.
“Anh ta nói với tôi rằng ông của anh ta, cha và bản thân anh ta, tất cả đều thờ quỷ Lucifer. Anh ta đã tự cứa chính mình và để máu rỉ trên những người mà anh cầu nguyện cho, bởi anh nói Satan đã chữa lành cho anh,” Tess poling, thành viên ban giám đốc của mạng lưới Hỗ trợ Lòng Thương Xót của Giáo phận Sacramento ở California cho biết.
Bà đã gặp tù nhân 24 tuổi này trong một lần đến nhà tù bang Folsom, trong vai trò tình nguyện viên tuyên úy vào những năm 1990.
Trong cuộc nói chuyện đầu tiên của họ, “Michael” tiết lộ rằng anh yêu các sách Thánh Vịnh và đã đọc chúng khi có người cho anh quyển Thánh Kinh, lúc anh bị tống giam tại một nhà tù địa phương nhưng không muốn từ bỏ “món quà chữa lành” của Satan.
Một cuộc thay đổi thật đẹp
“‘Bất cứ cái gì mà tôi sẽ nói đây đều đến từ Chúa Giêsu vì Ngài đang đứng đây, trước mặt bạn … vì Ngài muốn chạm đến bạn. Ngài yêu thương và chăm sóc cho bạn.’ Đó là cách mà chúng tôi bắt đầu cuộc trò chuyện,” bà Poling nói.

Cuộc gặp gỡ kết thúc với lời cầu nguyện lớn tiếng của Poling, và “Michael” thì đọc kinh.
Không cần phải nói, bà đã quyết tâm cầu nguyện cho việc cải tà quy chính của chàng trai trẻ.
Bà Poling nói tiếp: “Tôi đã quỳ gối đi Chặng đàng Thánh Giá. Tôi nói với Satan, ‘ngươi làm ta phân tâm. Mỗi lần bị phân tâm, thì ta đọc lại kinh Chặng Đàng Thánh giá từ chặng thứ 1. Ngươi càng làm ta phân tâm, thì sẽ càng có nhiều lời cầu nguyện” được dâng lên Thiên Chúa.
Thứ Bảy sau đó, Poling lại đến nhà tù. Michael đã biểu lộ một số thay đổi về thể chất, báo hiệu trước những thay đổi cả về tâm linh.
“Thật tuyệt vời làm sao … Khi chúng tôi trở lại và tù nhân này bước vào, thì hai má anh đã hồng hào, đôi mắt như của em bé. Tôi không biết anh đã dùng dầu gội gì nhưng trông anh rất sáng láng.”
Poling chia sẻ: “Tất cả các tình nguyện viên đều nhận thấy sự thay đổi.”
Cuộc hoán cải của người đàn ông trẻ
Ngày hôm đó, lần đầu tiên Michael được phục vụ trong Thánh lễ, anh đọc sách Thánh Vịnh.
“Và từ đó, anh bắt đầu cầu nguyện và tìm hiểu việc lần chuỗi kinh Mân Côi.”
Sau một thời gian, Poling phát hiện ra Michael đã xin một linh mục cho mình được xưng tội, và thậm chí anh đã cải đạo sang Công giáo.”
“Anh ấy đã thành người Công giáo, và rất tích cực [trong việc hỗ trợ các tuyên úy nhà tù] Poling nói.
Theo bà, biến cố này xảy ra vào khoảng thời gian mà nhóm Lòng Chúa Thương Xót đầu tiên được thiết lập ở giáo xứ các linh hồn ở Sacramento.
Poling đến cùng 9 đại biểu khác từ Giáo phận Sacramento ở Mỹ để tham dự WACOM 4, diễn ra từ ngày 16 đến 20/1.
Nguyễn Đức (theo CBCP)
 

Bức tranh thánh Tôma Aquinô của Francisco de Zurbarán: Ảnh: NCR
Thái Hà (15.01.2016) – “Những đứa trẻ này là những hài nhi mà anh đã giết bằng thủ thuật phá thai của anh,” thánh Tôma nói. Stojan tỉnh dậy, sốc và hoảng sợ. Ông quyết định sẽ không tiến hành một ca phá thai nào nữa.
Stojan Adasevic, một bác sỹ phá thai tại quốc gia cộng sản Séc-bi, đã từng giết 48.000 hài nhi còn trong cung lòng mẹ trong 26 năm hành nghề.
Đôi khi ông phá tới 35 bé một ngày.
Nhưng mọi chuyện đã lùi vào quá khứ. Hiện giờ Stojan là một trong những người lên tiếng Bảo Vệ Sự Sống (chống phá thai) mạnh mẽ nhất ở Séc-bi.
Ông đã giải thích lý do trong một cuộc phỏng vấn gần đây với La Razon, một tờ nhật báo tiếng Tây Ban Nha:
Các sách giáo khoa về y học của chế độ Cộng sản nói rằng phá thai chỉ đơn giản là loại bỏ một miếng mô. Tới những năm 1980, siêu âm mới cho phép chúng ta nhìn thấy thai nhi, nhưng họ đã không thay đổi quan điểm của mình. Bất chấp những gì ông đã tin, hoặc nghĩ rằng mình tin, Stojan lại bắt đầu gặp những cơn ác mộng.
Ông kể lại với tờ La Razon rằng mình đã biến đổi thế nào, Adasevic nói: ông đã “mơ thấy một cánh đồng tuyệt đẹp đầy những trẻ em và người trẻ – tuổi từ 4 tới 24 – đang chơi đùa và cười nói, nhưng chúng lại sợ hãi mà chạy trốn ông. Một người đàn ông trong tu phục phục đen và trắng im lặng nhìn chằm chằm vào ông. Giấc mơ đã lặp đi lặp lại khiến hàng đêm ông tỉnh giấc và toát mồ hôi lạnh.”
Một đêm, trong giấc mơ đáng sợ của mình, Stojan đã xin người đàn ông đó cho biết danh tính.
“Tên ta là Tôma Aquinô,” ngài trả lời. Vì được giáo dục trong trường học cộng sản mà chủ nghĩa vô thần được chú trọng, thay vì những bài học thực tế nên Stojan đã không nhận ra tên của vị thánh nổi tiếng dòng Đa Minh.
Stojan hỏi: “Còn những đứa trẻ này là ai?”
“Chúng là những hài nhi mà anh đã giết bằng thủ thuật phá thai của anh,” Thánh Tôma Aquinô trả lời thẳng thắn, không vòng vo.
Stojan tỉnh dậy, sốc và hoảng sợ. Ông quyết định không tham gia vào bất cứ một ca phá thai nào nữa.
Thật không may, vào ngày mà ông đưa ra quyết định đó thì một người anh em họ của ông đã tới bệnh viện với người bạn gái mang thai bốn tháng – họ muốn phá thai. Rõ ràng đó không phải là lần đầu cô ấy làm việc này, một chuyện không hiếm ở các nước trong khối Sô Viết.
Stojan miễn cưỡng đồng ý, nhưng thay vì Thủ thuật Nong thông thường và Nạo (D&C) trong đó thai nhi bị cắt thành nhiều mảnh bằng cách sử dụng một con dao có hình dạng móc gọi là thìa nạo, thì ông lại quyết định băm nhỏ hài nhi và đưa ra ngoài một thể.
Thật khủng khiếp, do thánh ý Thiên Chúa, trái tim nhỏ bé được đưa ra ngoài mà vẫn còn đập.
Đó cũng là lúc mà bác sỹ Adasevic nhận ra rằng ông thực sự đã giết chết một con người/.
Ngay lập tức, Stojan thông báo với bệnh viện rằng ông sẽ không thực hiện ca phá thai nào nữa.
Trước đó, chưa từng có bác sỹ nào ở đất nước cộng sản Nam Tư từng từ chối phá thai. Bệnh viện và chính phủ đã phản ứng nhanh chóng và quyết liệt.
Tiền lương của ông bị cắt giảm một nửa và con gái của ông ngay lập tức bị sa thải. Bên cạnh đó, con trai của Stojan không được tuyển vào đại học công lập.
Sau nhiều năm sống thiếu thống dưới ách của chính phủ vô thần cực đoan ủng hộ nền văn hóa sự chết, Stojan dường như oằn mình dưới áp lực đó và đầu hàng.
May mắn thay, Stojan lại mơ thấy thánh Tôma.
Thánh Tôma cam đoan sẽ đồng hành với Stojan và ông lại được truyền cảm hứng.
Vị bác sỹ sau đó đã tham gia phong trào bảo vệ sự sống ở Nam Tư. Thậm chí, ông còn khiến đài truyền hình quốc gia Nam Tư hai lần phát sóng bộ phim chống phá thai Tiếng Thét Không Lời của Bernard Nathanson.
Cũng từ đó, Stojan nói với báo giới và truyền hình khắp Châu Âu về quan điểm chống phá thai của mình và sự trở lại Chính Thống giáo mà ông đã theo trong thời thơ ấu. Quả thật, ông rất sùng kính thánh Tôma Aquinô, và hiếm khi nào ông không mang theo sách của ngài – tài liệu mà ông không ngừng đọc.
Stojan thường nhắc người nghe rằng trong cuốn Summa Theologiæ (Tổng luận Thần học), thánh Tôma viết rằng sự sống con người bắt đầu bốn mươi ngày sau khi được thụ thai. Tuy nhiên, Stojan cho rằng “thánh nhân muốn sửa chữa sai lầm.”
Ngày nay, Stojan vẫn tiếp tục đấu tranh cho sự sống và các quyền của trẻ em chưa sinh.
Hà An dịch từ National Catholic Register
http://www.ncregister.com/blog/astagnaro/abortionist-quits-after-st.-thomas-aquinas-visits-him-in-a-dream#When%3A2017-01-9+23%3A01%3A01

SỨ ĐIỆP

complex{fbig2}/Su Diep,Su Diep Chua Cha,Su Diep Chua Giesu

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.