Bài Viết by "Giáo Hội"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội. Hiển thị tất cả bài đăng


Đức Hồng y Robert Sarah chỉ trích trong một buổi thuyết giảng tại Chartres (21 tháng 5), rằng "một số" [Giáo hoàng Francis và các đồng minh của ông] đang tham gia vào việc xóa bỏ độc thân tính vì "một số lý do mục vụ".

Theo Sarah, một linh mục đã lập gia đình sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và là một “sự tách rời khỏi Truyền thống Tông đồ”.

Và: “Như thế thì chúng ta sẽ thiết lập chức linh mục theo các tiêu chuẩn của con người nhưng chúng ta không duy trì chức linh mục của Chúa Kitô, sự vâng phục, nghèo khổ và bình dị.”

Theo: https://gloria.tv/article/diQV3L7zBi1f2L6tFDcCSQm1n

Thứ hai ngày 1 tháng 9 năm 2014, lúc 20:05
Hỡi con gái yêu dấu của Ta, Thần Khí của Ta đang hiện diện hết sức mạnh mẽ trong Giáo Hội của Ta trên trái đất vào thời điểm này, khi mà những kẻ thù nghịch Ta đang điên cuồng nổi lên chống lại Giáo Hội của Ta. Chúng có thể tra tấn Thân Mình Ta, chính là Giáo Hội của Ta ; chúng có thể ra sức khinh miệt Lời Đích Thực của Thiên Chúa ; chúng có thể nhạo báng những Đường Lối của Thiên Chúa, nhưng chúng sẽ không bao giờ thắng được Giáo Hội của Ta. Giáo Hội của Ta gồm có những người rao giảng Lời Đích Thực của Thiên Chúa và những người trao ban các Bí Tích cho dân Thiên Chúa, như đã được các Tông Đồ của Ta truyền lại. Chỉ có những ai giữ lòng trung thành với những Giáo Huấn của Ta, trung thành với Lời Ta, với Thân Mình Ta và trung thành với Hy Tế Thánh Thiêng của Thánh Lễ, như Ta đã truyền ban, mới có thể tuyên bố rằng họ thuộc về Giáo Hội của Ta. Giáo Hội của Ta, như hiện nay, sẽ bị tàn phá – nhiều thánh đường trong Giáo Hội sẽ bị phá hủy và bị chiếm đoạt, những tôi tớ được thánh hiến của Ta sẽ bị trục xuất ra khỏi Giáo Hội để trở thành những kẻ bơ vơ, và Hy Tế Thánh Lễ sẽ bị loại bỏ. Tuy nhiên, Giáo Hội của Ta sẽ vẫn tồn tại cho dù Giáo Hội sẽ trở thành một phần rất nhỏ còn sót lại như Giáo Hội thuở sơ khai.
Thần Khí của Thiên Chúa sẽ dẫn dắt Giáo Hội của Ta vượt qua tình trạng hỗn loạn mà Giáo Hội sẽ phải đối mặt, và vì vậy Sự Thật sẽ tồn tại. Mọi kẻ thù nghịch Ta sẽ tìm mọi cách để phá hủy Giáo Hội Đích Thực của Ta. Sau đó chúng sẽ thay thế Giáo Hội của Ta bằng một thứ giáo hội lầm lạc. Chúng sẽ nhân Danh Ta để tạo ra kinh thánh mới, tạo ra những bí tích mới và nhiều sự phạm thượng khác nữa. Tuy nhiên, Giáo Hội của Ta chính là Thân Mình Ta và những tín hữu đích thực của Ta sẽ vẫn hiệp nhất nên một trong sự Kết Hiệp Thánh Thiêng với Ta. Và rồi, khi mà Giáo Hội dường như bị phá hủy tan tành, thì những đốm than hồng còn sót lại trong Giáo Hội của Ta vẫn lập lòe chiếu sáng mãi cho đến ngày Ta trở lại. Trong ngày ấy, khi Giáo Hội của Ta được canh tân và trỗi dậy sáng ngời trong vinh quang rực rỡ, và khi toàn thể nhân loại tuyên bố Giáo Hội này chính là Giáo Hội Chân Thật – là Giê-ru-sa-lem Mới – thì mọi người công chính sẽ cùng chung hưởng vinh quang với Giáo Hội của Ta. Tất cả mọi sự đã có từ thuở ban đầu, cuối cũng sẽ hiện diện. Tất cả mọi sự sống do Thiên Chúa tạo nên sẽ được phục hồi lại như xưa khi mà Thiên Chúa tạo dựng Địa Đàng cho loài người.
Thần Khí của Ta vẫn sống động và không bao giờ tàn lụi, vì Ta là Sự Sống Vĩnh Cửu – là Đấng ban phát mọi sự cho nhân loại, để họ được hưởng sự sống ở nơi mà sự chết không hề tồn tại. Hãy luôn tín thác vào Quyền Năng của Thiên Chúa khi mà mọi sự các con chứng kiến trong thế giới này dường như là thiếu tình người, tàn nhẫn, bất công và đôi khi làm cho các con phải khiếp sợ. Quyền Năng của Ta sẽ bao trùm cả thế giới và Tình Yêu của Ta sẽ hiệp nhất tất cả những ai có tình yêu thương trong tâm hồn. Ta sẽ tiêu diệt tất cả mọi mọi sự dữ và khi Lòng Kiên Nhẫn của Ta đã cạn kiệt, Ta sẽ loại trừ mọi kẻ thù nghịch Ta. Ta đang hiện diện nơi đây. Ta chưa từng lìa xa các con. Giờ đây Ta đang dẫn dắt các con trên con đường chông gai hướng về Vương Quốc Vinh Hiển của Ta. Một khi ngày đó đến, khi mà Ta công bố Cuộc Quang Lâm của Ta, Ta sẽ lau khô nuớc mắt cho các con. Mọi nỗi đau buồn sẽ không còn nữa, và thay vào đó sẽ là tình yêu thương, bình an và nỗi vui mừng mà chỉ mình Ta, Chúa Giêsu Kitô, mới có thể ban cho các con.
Hãy vững tâm bền chí hỡi các con nhỏ của Ta. Hãy cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện để tình yêu thương có thể tồn tại trong thế giới và để Ta có thể ban bình an cho tất cả những người vô tội đáng thương, vốn đang phải chịu nhiều đau khổ trong những đất nuớc bị chiến tranh tàn phá khắp nơi trên thế giới. Tất cả con cái Thiên Chúa đều thuộc về Ta, và Ta yêu thương hết thảy mọi linh hồn, mọi quốc gia, và mọi tội nhân. Ta ban cho các con Tặng Ân là những Chiến Dịch Cầu Nguyện, để khi các con đọc những lời cầu nguyện này, các con sẽ trợ giúp Ta cứu vớt thật nhiều linh hồn như Ta hằng mong muốn.
Hãy dấn thân trong bình an và yêu thương.
Chúa Giêsu của các con
Chuyển dịch từ nguồn: The Book of Truth

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 và Đức Hồng Y Joachim Meisner

Đức Hồng Y Joachim Meisner đã qua đời trong đêm mùng 4 rạng ngày mùng 5 tháng Bẩy. Buổi chiều ngày mùng 4, ngài còn nói chuyện qua điện thoại với Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16 và với Đức Hồng Y Gerhard Müller, nguyên Tổng Trưởng bộ Giáo Lý Đức Tin, bị bãi nhiệm vài ngày trước đó. Cái chết đột ngột của ngài đã gây ra nhiều đồn đoán.

Đức Hồng Y Meisner cũng là một trong 4 vị Hồng Y đã nêu lên 5 điểm hồ nghi liên quan đến Tông Huấn Amoris Laetitia, nhưng không được Đức Phanxicô trả lời.

Trong tang lễ của Đức Hồng Y hôm 15 tháng Bẩy, Đức Tổng Giám Mục Georg Gänswein, là thư ký riêng của Đức Bênêđíctô thứ 16 đã đọc một lá thư của Đức Giáo Hoàng danh dự. Trong thư có đoạn viết như sau:

“Tuy nhiên, điều gây ấn tượng mạnh hơn đối với tôi là trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời mình, ngài đã học cách buông ra, và ngày càng sống trong sự tín thác rằng Chúa không bỏ rơi Giáo Hội của Ngài, cho dù đôi khi con tàu gần như ngập đầy nước đến mức sắp chìm.”

Cụm từ “con tàu gần như ngập đầy nước đến mức sắp chìm” được nhiều người diễn giải là Đức Bênêđíctô thứ 16 muốn phê phán tình trạng hỗn loạn trong Giáo Hội theo sau Tông Huấn Amoris Laetitia.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ Il Giornale của Ý sau khi ở Đức về, Đức Tổng Giám Mục Gänswein xác nhận Đức Bênêđíctô XVI đã đích thân viết lá thư được ngài đọc trong tang lễ của Đức Hồng Y Meisner, “từ chữ đầu tiên cho đến chữ cuối cùng, không cần nhờ ai giúp cả.”

Tuy nhiên, Ðức Tổng Giám Mục Georg Gänswein nhấn mạnh rằng Đức Bênêđíctô thứ 16 không có ý phê phán tình trạng Giáo Hội dưới thời Đức Phanxicô. Ðức Tổng Giám Mục Georg Gänswein, là thư ký riêng của Đức Bênêđíctô thứ 16, cũng là chủ tịch Phủ Giáo Hoàng của Đức Phanxicô bày tỏ lo ngại rằng nhiều người “đang cố gắng sử dụng Đức Giáo Hoàng danh dự trong một luận điệu chống lại Đức Phanxicô.”

Đức Tổng Giám Mục Gänswein nói: “Vị Giáo Hoàng danh dự đã bị khai thác một cách có chủ ý, ngài không ám chỉ bất cứ điều gì cụ thể với cụm từ đó, nhưng nói về tình hình của Giáo Hội ngày nay cũng như trong quá khứ như một chiếc thuyền đang đi giữa một dòng nước không tĩnh lặng. Chính Đức Phanxicô cũng từng nói như vậy.”

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã sử dụng hình ảnh này trong Bài Suy Niệm Chặng Đàng Thánh Giá Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh ở hí trường Côlôsêô vào năm 2005, khi ngài vẫn còn là Hồng Y Joseph Ratzinger, tổng trưởng bộ Giáo lý Đức Tin. Trong chặng thứ Chín, ngài viết:

“Lạy Chúa, Giáo Hội Chúa thường giống như một chiếc thuyền sắp chìm, nước tràn vào từ mọi phía.”

“Trong cánh đồng của Chúa, chúng con thấy nhiều cỏ dại hơn lúa mì. Khuôn mặt nhếch nhác và áo quần dơ bẩn của Giáo Hội ném chúng con vào tình trạng hoang mang. Tuy nhiên, chính chúng con cũng là những người đã làm vấy bẩn! Chính chúng con cũng đã phản bội Chúa nhiều lần, sau bao nhiêu những lời nói thật cao cả và những cử chỉ thật hùng hồn của chúng con.”
ĐTGM Georg Gänswein đọc thư của Đức Bênêđíctô thứ 16 trong tang lễ ĐHY Meisner

Theo: http://vietcatholic.net/News/Html/229515.htm

Thứ sáu ngày 29 tháng 3 năm 2013, lúc 12:15
Thứ Sáu Tuần Thánh
Hỡi con gái yêu dấu của Ta, hôm nay Giáo Hội của Ta trên trái đất sẽ chịu Khổ Hình Thập Giá.
Hôm nay đánh dấu sự khởi đầu của những biến đổi,những biến đổi sẽ nhanh chóng diễn ra và sẽ làm thay đổi bộ mặt Giáo Hội Công Giáo trên toàn thế giới.
Ngay sau đó sẽ là sự hiệp nhất của tất cả những thứ giáo lý, mà người ta sẽ chứng kiến như những dấu chỉ ở những nơi công cộng, và người ta cố ý bày ra để mọi người có thể cảm nhận được.
Giờ đây hãy quan sát, khi tất cả những điều mà Ta đã nói với con sẽ được đưa ra ánh sáng. Ta sẽ chống lại những ai chối bỏ Sự Thật, khi các con buộc phải đón nhận sự dối trá.
Hỡi các tín hữu của Ta, các con phải bảo vệ các Bí Tích của Ta và phải tỉnh thức. Hỡi các tôi tớ được thánh hiến của Ta, các con sẽ sớm bị thử thách, khi người ta chống lại Thiên Tính của Ta. Những Lề Luật của Thiên Chúa sẽ bị sửa đổi, và ngay sau khi Bí Tích Thánh Thể của Ta bị xâm phạm, thì Bàn Tay của Thiên Chúa sẽ giáng phạt hết sức mạnh mẽ, để ngay lập tức các con sẽ biết được rằng những Thông Điệp này đến từ Thiên Đàng.
Nỗi đau buồn của Ta sẽ trở thành nỗi đau buồn của các con. Nỗi đau khổ của các con vì việc nhận biết Sự Thật, sẽ làm cho các con không thể chấp nhận sự phạm thánh, mà người ta sẽ buộc các con phải đón nhận.
Thậm chí khi ấy, nếu các con không đón nhận ngôn sứ của Ta và những Lời mà Ta ban cho cô ấy, thì Ta vẫn cho các con thêm thời gian. Vì chẳng bao lâu nữa, những bề trên của các con sẽ buộc các con phải thực hiện lại những lời khấn thánh hiến của các con. Người ta sẽ buộc các con hứa trung thành suốt đời với những lề luật của tà giáo. Nếu các con thực hiện điều này, thì các con sẽ bị đặt dưới ảnh hưởng của tên ác quỷ và các con sẽ chống lại Thiên Chúa.
Các con phải kiên vững và giữ lòng trung thành với Ta, và các con phải xin Ta ban cho các con ơn soi sáng, khi mà kẻ ngồi trên Ngai Tòa Thánh Phêrô, kẻ không chịu đi theo đường lối của Thánh Phêrô, sẽ phá hủy lòng trung thành của các con đối với Thiên Chúa.
Giờ đây, khi các con đang chứng kiến Cuộc Khổ Hình Thập Giá trong Giáo Hội của Ta, Ta mời gọi các con công bố Sự Thật của Thiên Chúa. Ta sẽ tiếp tục mời gọi các con để bảo vệ các con. Ta đoan chắc rằng Giáo Hội của Ta, những ai trung thành với những Giáo Huấn của Ta và các Bí Tích của Ta, và trung thành với Lời của Thiên Chúa sẽ sống sót nhờ vào đạo binh còn sót lại, là những người sẽ không bao giờ ruồng bỏ Ta.
Ngày hôm nay, đã có những kẻ phản bội Ta. Những kẻ khác sẽ sớm chối bỏ các Bí Tích của Ta, khi các con quá yếu đuối để bảo vệ Lời của Thiên Chúa. Những ai nghi ngờ về Sự Thật nhưng ra sức truyền bá Lời Ta, sẽ phải chịu đau khổ vì các con không đủ can đảm để bảo vệ Sự Thật. Tuy nhiên, các con vẫn giữ lòng trung thành với Ta, vì các con biết rằng các con không thể sống nếu không có Tình Yêu của Ta.
Hãy lắng nghe Tiếng Nói của Ta. Hãy tựa đầu mệt mỏi của các con vào Vai Ta và giờ đây hãy để cho Ta ôm lấy các con. Ta sẽ luôn bảo vệ các con.
Chúa Giêsu của các con
Chuyển dịch từ nguồn: The Book of Truth

Viết bởi Maike Hickson ngày 3 tháng 2 năm 2017


Chỉ hai ngày sau khi chính thức công bố những hướng dẫn mục vụ mới liên quan đến hôn nhân, có vẻ là ở Đức dấy lên sự rối loạn. Mâu thuẫn, khó hiểu, và các tiếng nói báo động hiện nay được nghe từ mọi miền đất nước. Nhưng, trước hết, tài liệu này hóa ra là ngấm ngầm nguy hiểm hơn so với cái nhìn ban đầu. Bây giờ ngay cả chúng ta cũng thắc mắc về mức độ mà tự bản thân một người giáo dân bình thường cũng phải có thẩm quyền can thiệp vào trong Giáo Hội Công Giáo.
Như chúng tôi đã tường thuật hai ngày trước, các hướng dẫn ở Đức liên quan đến việc người ly dị “tái hôn” dường như ban đầu được ít tự do hóa hơn so với những hướng dẫn của người Malta – cái mà Tiến sĩ Edward Peters (luật sư giáo luật) sau đó đã mô tả nó như là ”tai họa của người Malta”. Tuy nhiên như tôi sau đó đã đề cập nó, vào lúc đó người Đức đã khá gần với tiêu chuẩn của người Malta. Nghĩa là biểu hiện của người Đức cho thấy “quyết định [của người ly dị ” tái hôn”] để nhận các bí tích phải được tôn trọng” đã gần với tuyên bố của người Malta rằng người “tái hôn” có thể Rước lễ nếu họ cảm thấy “hòa giải với Thiên Chúa”. Trong cả hai trường hợp, điều chủ yếu và thiên về lương nhiều hơn được nhấn mạnh ở đây và được coi là điều chính yếu trong việc cân nhắc để đưa ra quyết định.
Ví dụ, đây là những gì Đức Tổng Giám mục Heiner Koch ở Berlin vừa mới đây cho biết liên quan đến vấn đề lương tâm: “Chúng tôi [giám mục Đức] viết rằng – trong những trường hợp cá nhân được biện minh và sau một quá trình lâu dài hơn – có thể có một quyết định thuộc lương tâm ở phía bên người tín hữu nhận lãnh các Bí tích, một quyết định mà phải được tôn trọng”. Khi được hỏi lý do tại sao các giám mục Đức – trong sự tương phản đối với các hướng dẫn thuộc phạm vi giám mục khác lại thận trọng hơn – còn bây giờ thì đã ” quyết định trình ra cho toàn thế giới biết [về chuyện đối với những người ly dị “tái hôn”], điều mà khiến cho lương tâm của một người thành tiêu chuẩn”, [tôi nhấn mạnh] ĐTGM Koch trả lời một cách cứng rắn: “Bởi vì chúng tôi tin chắc rằng đây là ý định – theo như từ ngữ cũng như trong tinh thần – cái mà chính ĐGH Phanxicô mong muốn và cần, và đó là điều chúng tôi đưa ra để cùng song hành với ngài “.[tôi nhấn mạnh]
Do đó, rõ ràng rằng các hướng dẫn mục vụ của Đức đang ngày càng là vấn đề đáng lo ngại do giọng điệu mà giờ đây được đặt trên lương tâm cá nhân – nếu không hoàn toàn đặt trên một lương tâm chủ quan vô định.
Những gì chúng ta thực sự hoặc phần nào bỏ qua cho đến nay là một thực tế rằng các giám mục Đức giờ đây không còn nói một cách rõ ràng hơn về những việc làm của các linh mục được thụ phong liên quan đến “con đường sáng suốt” mà vì lẽ đó bản thân các ứng viên “tái hôn” giờ đây có thể sẵn sàng quả quyết.
Ví dụ, trong toàn bộ hướng dẫn mục vụ, chỉ có những từ “mục vụ” và “người chăm sóc mục vụ” (không có định nghĩa gì thêm) hiện nay đang được sử dụng; từ “mục tử” hay “linh mục” chẳng được tìm thấy nơi nào. Các hậu quả nghiêm trọng của hiện tượng ngôn ngữ này là, ít nhất là ở Đức, hiện nay hàng giáo dân (nam và nữ) có thể chính thức “đồng hành” với người “tái hôn” trong sự phân định của họ để xem liệu họ có thể có quyền nhận lãnh các bí tích hay không. Vấn đề này chỉ khiến tôi chú ý đến qua một cuộc phỏng vấn được công bố ngày hôm qua trên chính trang web Kathol isch.de của các Giám Mục ở Đức. Trong cuộc phỏng vấn này, Ute Eberl, một nữ giáo dân làm việc trong lĩnh vực chăm sóc mục vụ cho Giáo Phận Berlin, bình luận về những hướng dẫn mục vụ mới của Đức và rõ ràng ca ngợi một thực tế rằng người đồng hành giờ đây có thể là một giáo dân. Eberl giải thích:
Trước hết, tôi thật mãn nguyện. Tôi nghĩ rằng thực sự tuyệt vời khi các giám mục đưa chú thích “người tái hôn” vào văn bản chính và nói: quyết định của lương tâm phải được tôn trọng. Do đó tôi hy vọng rằng những tranh cãi sẽ có một kết thúc. Lời khuyên hãy tiếp xúc với một người chăm sóc mục vụ là tuyệt vời. Tiếp đến là một linh mục, đầu tiên vị này cũng có thể là một người gần gũi, đồng hành với một người nào đó một cách dè chừng, nhưng sau đó cũng vui mừng về mối quan hệ mới. Bức thư giám mục [các hướng dẫn mới], do đó, không phải là một cách hạn chế người giáo dân đối với một trật tự mới về quy tắc và cách cư xử, nhưng thổi vào một hơi thở tự do tuyệt vời. [Tôi nhấn mạnh]
Sau khi đọc toàn bộ cuộc phỏng vấn này, tôi đã liên lạc với văn phòng báo chí của Hội đồng Giám mục Đức “, yêu cầu làm rõ hơn nữa khi ai đó sẽ là người chính thức đồng hành với người “tái hôn”. Sau đây tôi cũng trích dẫn một đoạn các hướng dẫn mới ở Đức: “Tông huấn Amoris Laetitia nói về một quá trình đi đến quyết định [về việc tiếp nhận cả Bí tích Hòa Giải và Bí tích Thánh Thể] vốn được đi kèm bởi một người chăm sóc mục vụ.” [tôi nhấn mạnh] Với câu hỏi là liệu điều này có nghĩa rằng có thể có một người không phải là linh mục sẽ có quyền đồng hành với người ly dị “tái hôn”, hôm nay tôi nhận được câu trả lời sau đó từ Tiến sĩ Michael Feil về Hội đồng Giám mục Đức – và đây là tất cả những lời giải thích mà tôi nhận được:
Đối với một định nghĩa xa hơn về khái niệm “người chăm sóc mục vụ” trong bối cảnh này, ta có thể xem Giáo luật 519 CIC [ liên kết của quy tắc Giáo Luật này của Giáo hội Công giáo được cung cấp bởi MH]: Linh Mục chánh xứ (parochus) là vị mục tử thích hợp của giáo xứ được ủy thác để thực hiện việc chăm sóc mục vụ của cộng đoàn vốn đã được ký thác cho ngài dưới thẩm quyền của giám mục giáo phận – người có quyền của Đức Kitô. Vị Linh Mục này đã được kêu gọi để chia sẻ, để rồi cũng nơi cộng đoàn đó, ngài sẽ thực hiện các chức năng giảng dạy, thánh hóa, và cai quản, cũng với sự hợp tác của các linh mục hay phó tế khác và với sự giúp đỡ của các thành viên giáo dân của các tín hữu Kitô giáo, theo các chuẩn mực của lề luật. [Tôi nhấn mạnh]
Cho đến nay, tôi chưa một lần nào nữa nghe phản hồi từ Tiến sĩ Feil, cụ thể là sau khi tôi viết thư cho ông ta lần thứ hai, yêu cầu ông xác nhận rằng hiện điều này có nghĩa thực sự là giáo dân cũng có thể được phép đồng hành với người “tái hôn” trong sự phân định của họ cho dù họ có thể nhận các bí tích hay không; và liệu các giám mục Đức giờ đây cũng nói rằng các linh mục địa phương phải tôn trọng trong mọi trường hợp mà quyết định của lương tâm của cá nhân của người “tái hôn” có liên quan đến việc tiếp nhận Mình Thánh Chúa.
Hơn nữa, một vấn đề khác trong câu hỏi cũng vẫn còn phần nào chưa rõ ràng, cụ thể là: điều này có ý nghĩa gì liên quan đến việc tiếp nhận Bí Tích Hòa Giải? Như vậy liệu sẽ có một giáo dân tư vấn cho một người “tái hôn” và do đó sẽ được tham gia vào các quyết định về việc liệu rằng người khác giờ đây cũng có thể được tha tội trong tòa giải tội? Giáo dân hiện nay sẽ có thẩm quyền trong Giáo Hội đến mức độ nào? Sau hết, các giám mục Đức nói về “người chăm sóc mục vụ” nói chung khi nhắc đến một cách rõ ràng các quyền được phép nhận lãnh cả hai Bí Tích Hòa Giải và Bí Tích Thánh Thể.
Hôm qua chính Tiến sĩ Peters đã đưa ra trong bài bình luận của mình về các hướng dẫn ở Đức một câu hỏi tương tự và có liên quan, cụ thể là:
Còn nữa, những đoạn khác trong các tài liệu của Đức đều ngụ ý rằng bí tích hòa giải cũng có thể được lãnh nhận trong những trường hợp này [của người ly dị và “tái hôn”], nhưng dường như không yêu cầu nơi người đền tội một ”mục đích chắc chắn sửa đổi” (thậm chí liên quan đến hoạt động tình dục tự nguyện đối với một người không phải là người phối ngẫu). Như tôi đã lưu ý ở HPR một vài năm trở lại đây, sự tiếp cận này cho thấy việc cử hành Bí Tích Hòa Giải có nguy cơ phạm thánh và linh mục giải tội bị mang tội đồng lõa.
Do đó ở đây tiến sĩ Peters chỉ ra sự nguy hiểm của các linh mục đang bị một áp lực – dưới một tài tội hay không tội hệ tại ở lương tâm của người “tái hôn” – đẩy các linh mục vào việc tha tội cho một kẻ ngoại tình không chịu ăn năn, điều mà sẽ đặt thiên chức linh mục của các ngài vào chỗ nguy hiểm – theo giáo luật! Do đó chúng tôi tha thiết đề nghị các độc giả của chúng tôi hãy nghiên cứu về phân tích của Tiến sĩ Peters hồi năm 2011 về Giáo luật (Canon )1387 (xem liên kết trong trích dẫn của tiến sĩ Peters), trong đó nói rằng một linh mục sẽ bị trừng phạt nếu “khuyến khích một hối nhân vi phạm điều răn thứ sáu”, trong khi hoặc sau khi giải tội là phải bị phạt. Lời mời gọi này, theo tiến sĩ Peters, cũng có thể có nghĩa là một linh mục có thể dẫn dắt không đúng cách và khuyến khích một hối nhân vi phạm điều răn thứ Sáu với bất kỳ người trung gian thứ ba nào khác, và không chỉ với bản thân người đó. Sau khi chính mình nhận được một tài liệu tham khảo về vấn đề này từ một luật sư giáo luật tư vấn khác, chúng tôi gần đây đã chỉ ra tình hình phát triển nguy hiểm này cụ thể liên quan đến tông huấn Amoris Laetitia.
Nếu trong cùng vấn đề này của một bí tích – như hiện các giám mục Đức gây ra – đã đủ khó hiểu, thì những phản ứng đối với các hướng dẫn mới về mục vụ ở Đức thậm chí còn tệ hơn như vậy nhiều. Ví dụ, ngày hôm nay, trang web Katholisch.de của các giám mục Đức đăng tải một cuộc phỏng vấn với Đức Giám mục Konrad Zdarsa của Giáo phận Augsburg. Vị Giám mục này đã tự mình nhầm lẫn một cách công khai và không lẫn đi đâu được, và không thể trả lời công khai thậm chí rõ ràng câu hỏi là liệu những người ly dị “tái hôn” giờ đây có thể rước lễ tại Đức hay không. Ngài nhấn mạnh rằng bây giờ người ta có thể cần làm rõ thêm cái tài liệu đó ở Đức! [tôi nhấn mạnh] chính vị Giám mục này nói “Ở đây chúng tôi một lần nữa đang cần một ai đó đến và giải thích cho chúng tôi [giám mục Đức] về tài liệu này”, sau khi ngài được hỏi cụ thể về các câu hỏi của người ly dị “tái hôn” và liệu “tất cả mọi người giờ đây có thể làm những việc như ngài mong muốn không”
Hơn nữa ĐGM Zdarsa nhận thấy rằng giờ đây người ta cần nhiều hơn là một sự “chăm sóc mục vụ chu đáo” dành cho những người có rắc rối trong hôn nhân. Ông thấy rằng “chúng tôi [giám mục] lúc này đã đưa ra một trách nhiệm to lớn [cho những linh mục chánh xứ địa phương] chứ không phải ai cũng có thể xử lý nó và chịu đựng nó trong sự cân nhắc tương tự”. Vị Giám mục Đức này sau đó hỏi một câu hỏi xuyên thấu: Nếu một linh mục thậm chí không có thời gian cho một sự chuẩn bị kỹ lưỡng dành cho giới trẻ và các cặp vợ chồng kết hôn trong tương lai, “thì còn đâu thời gian, sức mạnh và sự kiên nhẫn” để gia nhập vào quá trình nhận định kỹ lưỡng này, “như ĐGH yêu cầu”? Trong bối cảnh này, Đức Giám mục Zdarsa sợ rằng sẽ có “quyết định sớm” ( “Schnellschüsse”), “hoặc là sẽ có nguyên nhân mâu thuẫn khác có thể chưa được tiên liệu đầy đủ.” [Tôi nhấn mạnh]
Đức Zdarsa cũng đặt ra câu hỏi liệu, nói chung, người Đức ly dị “tái hôn” sau cùng thậm chí sẽ tìm kiếm sự tư vấn của các linh mục, bởi vì “số người ở giữa chúng ta thường xuyên tới tòa giải tội thật là ít ỏi”. Đối với các câu hỏi lương tâm cá nhân, Đức Giám mục Zdarsa với nét mặt đau đớn nói rằng một người lần đầu tiên đã bắt đầu với “sự hình thành của lương tâm” thì sau đó sẽ thừa nhận rằng nhiều người ở Đức đã bị lãng quên trong vấn đề này. ĐGM cho biết thêm “Chúng tôi không thảo luận về câu hỏi này về sự hình thành của lương tâm”. Sau khi chỉ ra tầm quan trọng của việc định hướng cuộc sống con người theo những lề luật của Thiên Chúa, vị giám mục này – vốn cũng từng lớn lên ở Đông Đức và là người đã phải chịu đau khổ dưới chế độ Cộng sản – trả lời cho những câu hỏi hoa mỹ “Vì vậy, vẫn sẽ gặp khó khăn?” Với một tâm trạng nặng nề, ngài nói: “vâng”. Nó gần như rõ ràng biết bao nhiêu vị giám mục này bị bao vây dưới sự nhầm lẫn hiện tại và rối loạn.
Tuy nhiên, ĐGM Zdarsa không phải là người duy nhất trong giáo hội chân thành thể hiện những hạn chế của ngài về các hướng dẫn mục vụ mới được ban hành (vốn chưa được sự chấp thuận của tất cả các giám mục Đức một cách cá nhân, nhưng đúng hơn chỉ bởi Đại Hội đồng của Hội đồng Giám mục Đức ngồi đó được lựa chọn ủy quyền từ tất cả các giáo phận ở Đức, mỗi giáo phận một vị). Ví dụ, trên tạp chí tiến bộ của Đức, tờ Der Spiegel, đăng tải một bài báo ngày hôm nay có tiêu đề : “Các Linh mục Bảo thủ đang loại bỏ sáng kiến của Hội đồng Giám mục Đức ‘”.  Bài báo đăng tải:
Các đại diện của Mạng lưới linh mục Công giáo ( “Netzwerk katholischer Priester”), của German Opus Dei, của Legionnaires of Christ và của các nhóm chính thống khác nói về “các chia rẽ trong các giáo xứ” và về một “sự mù mờ về Bí Tích Hôn phối”.
Cũng quan trọng lưu ý trong bối cảnh này mà một luật sư giáo luật người Đức, Cha Gero P. Weishaupt, hôm nay mới đăng một bình luận trên facebook của Mathias von Gersdorff, mô tả sự gia tăng hỗn loạn ở Đức: ” Giờ đây hỗn loạn ngự trị, đặc biệt là giữa các giám mục. Hồng y của Cologne [Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki] cho biết ngày hôm qua […] rằng ngài tránh khỏi một sự ly giáo. ĐGH sẽ không thể tránh được việc phải làm rõ vấn đề này. “[Tôi nhấn mạnh]
Ở đây cũng nên đáng giá để xem xét những ý kiến được tăng tải bởi chính nhà bình luận Công giáo Đức, Mathias von Gersdorff. Ông viết về một bài viết ngày 02 Tháng 2 được công bố bởi tờ báo Đức nổi tiếng – tờ  Frankfurter Allgemeine Zeitung (FAZ), vốn giờ đây thậm chí còn tuyên bố – liên quan đến các quy định mới cho người ly dị “tái hôn” – như sau: “Tất cả các hội nghị giám mục khác trên thế giới hiện nay sẽ phải tự hỏi chính mình với lập luận là họ sẽ dựa vào câu hỏi nào để hỏi ĐGH để rồi từ đó từ chối tỏ lòng trung thành với ngài “[tôi nhấn mạnh] .Von Gersdorff nhận xét dựa trên trích dẫn tinh tế này với những điều sau đây, những lời nói khá vui tươi:”Đây là thời mới: tất cả mọi người, các giám mục Đức hiện đang có mô hình mới cho lòng trung thành với ĐGH! “[tôi nhấn mạnh]
Như von Gersdorff cũng cho biết, FAZ Đức miêu tả và trình bày những ba vị giám mục, Walter Kasper, Karl Lehmann, và Oskar Saier – những người, lần đầu tiên vào năm 1993, đẩy mạnh trong giáo phận của mình việc cho phép người “tái hôn “rước lễ –  là nạn nhân dũng cảm cuối cùng đã được chứng minh.
FAZ nói “Trong năm qua, với tài liệu của mình Amoris Laetitia, ĐGH Francis hiện ôm lầy những hiểu biết của ba vị [trước đây bất đồng] giám mục,” [tôi nhấn mạnh]. Với những lời này, von Gersdorff trớ trêu bình luận: “Sau một thời gian dài đau khổ – gần 25 năm – những điều đeo đuổi trở nên rõ ràng: sau hết những người trung thành thực sự của ĐGH là người Đức! Ngay sau khi Đức Hồng Y Kasper chết, Daniel Deckers [nhà báo FAZ] có lẽ hầu như sẽ đề nghị phong thánh cho ngài. “[Tôi nhấn mạnh]
Hiện nay thế giới thường xuyên dường như đủ đảo lộn. Những người bất đồng chính kiến trước đó giờ đây là những người trung thành với Giáo Hoàng, và người Công giáo chính thống là những người không cam chịu và là kẻ ngoan cố bất đồng chính kiến.
Sự hỗn loạn ở Đức hiện đang gia tăng quá rõ – cũng như là trường hợp trong Giáo Hội lớn hơn.
TC chuyển dịch từ: onepeterfive

Đức Hồng Y Giuse Trần Nhật Quân, nguyên Giám Mục Hương Cảng, đã cảnh báo mạnh mẽ chống lại một thỏa thuận đang được đề xuất, mà ngài lo ngại rằng, sẽ khiến cho chính phủ Trung Quốc có thể kiểm soát và thao túng Giáo Hội Công Giáo.
Đức Hồng Y Trần Nhật Quân thỉnh cầu Tòa Thánh đừng đầu hàng Bắc Kinh

Giữa lúc có nhiều báo cáo cho thấy một hiệp ước giữa Roma và Bắc Kinh đang sắp xảy ra, trong đó Tòa Thánh sẽ chấp nhận các vị giám mục đã được “tấn phong” bởi bọn cầm quyền Trung Quốc mà không cần sự chuẩn y của Vatican, Đức Giám Mục về hưu của Hương Cảng cảnh báo rằng một thỏa thuận như thế có thể khiến cho Giáo Hội trở nên “hoàn toàn tùng phục một nhà nước vô thần.” 

Trong một cuộc phỏng vấn với tờ Wall Street Journal, Đức Hồng Y Trần Nhật Quân bày tỏ lo ngại rằng Vatican đã sẵn sàng nhượng bộ những nguyên tắc quan trọng “với hy vọng đạt được một thỏa thuận.” 

Đức Hồng Y cũng thẳng thừng bày tỏ mối nghi ngại về mong muốn rõ rệt của Đức Thánh Cha Phanxicô muốn đạt được một hiệp ước. “Tôi xin lỗi phải nói rằng dù rất thiện chí, nhưng đôi khi ngài đã làm nhiều điều vô lý”.

Ngài giải thích như sau: “Đức Thánh Cha Phanxicô không có kiến thức thực sự về cộng sản,” Theo Đức Hồng Y, lớn lên tại Á Căn Đình, Đức Giáo Hoàng đã thấy cộng sản như là một đối tượng bị bách hại, chứ không phải là những kẻ khủng bố. Trong khi đó, ở Trung Quốc, Giáo Hội đã phải chịu đựng sự khủng bố của cộng sản.

Theo thỏa thuận được đề xuất, Vatican được tin là sẽ công nhận hầu hết các giám mục được tấn phong bởi chế độ Trung Quốc. Đổi lại, Bắc Kinh sẽ công nhận quyền của Tòa Thánh bổ nhiệm các giám mục mới. Tuy nhiên, những giám mục sẽ được chọn từ một danh sách do Hội Công Giáo Yêu nước đưa ra. Theo Đức Hồng Y, nếu điều này xảy ra, bọn cầm quyền Trung Quốc có thể kiểm soát các bổ nhiệm Giám Mục và chỉ giới thiệu các ứng viên nào sẵn sàng công nhận uy quyền của chính phủ. Ngoài ra, những thỏa thuận này không đề cập đến tình trạng của các giám mục “thầm lặng” và các linh mục hiện đang chịu sự sách nhiễu của chính phủ, nhiều người đang bị bắt giữ.

Đức Hồng Y Trần Nhật Quân nhìn nhận rằng hầu hết các giám mục của Giáo Hội Công Giáo “chính thức” được công nhận bởi Bắc Kinh “rất trung thành với Giáo Hội.” Tuy nhiên, ngài nhấn mạnh rằng họ là những “con rối” của chế độ Bắc Kinh. Đức Hồng Y nói: “Tôi thà rằng không có những giám mục như thế thì hơn”.

Trong một diễn biến liên quan, một linh mục Trung Quốc viết blog dưới một cái tên giả, cũng đưa ra một lý luận tương tự. Ngài viết:

“Nhiều người nói rằng các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Vatican đã đạt được với giá phải trả của Giáo Hội thầm lặng. Trong thực tế, nếu Đức Giáo Hoàng ban cho Bắc Kinh quyền bổ nhiệm giám mục, thì toàn bộ Giáo Hội tại Trung Quốc bị hy sinh. ‘Vì lợi ích của Giáo Hội tại Trung Quốc’ mà chính Giáo Hội tại Trung Quốc bị hy sinh, trao quyền bính thiêng liêng của mình cho một chính phủ vô thần. Tôi không nghĩ rằng Vatican có thể chọn một bước tiến thiếu nghiêm túc như vậy!”

Trong quá trình đàm phán với cộng sản Trung quốc, hiển nhiên là Tòa Thánh không thể công bố hết những chi tiết các thỏa thuận với Bắc Kinh. Điều đó là có thể hiểu được. Tuy nhiên, rõ ràng là những lo ngại của Đức Hồng Y Trần Nhật Quân và Giáo Hội thầm lặng tại Trung Quốc xuất phát từ một thực tế không thể phủ nhận được là các vị này không hề được hỏi ý kiến bất chấp những kinh nghiệm phong phú của các vị về cộng sản, và về đất nước của chính họ.
 
Đặng Tự Do, VCN

"việc cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời đã có từ thời Cựu Ước và được Giáo Hội Chúa Kito duy trì đến ngày nay là một việc làm rất cần thiết của người Kito hữu. Chúng ta có nhiều cách làm hữu ích cho các linh hồn nơi luyện ngục như đọc kinh cầu nguyện, ăn chay hãm mình đền tội, làm việc bác ái và xin dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn."

Về việc xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn

A. Cầu nguyện cho người đã qua đời
 
Trong sách Ma-ca-bê quyển thứ 2 kể lại việc « Ông Giuđa quyên được khoảng hai ngàn quan tiền và gửi về Giêrusalem để xin dâng hy tế tạ tội ; ông làm cử chỉ rất tốt đẹp và cao quí này vì cho rằng ngươì chết sẽ sống lại…Đó là lý do khiến ông xin dâng hy tế đền tội cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi” ( x. 2 Macabê 12:43-46). Đây là nguồn gốc trong Kinh Thánh Cựu Ước về việc cầu nguyện cho người quá cố vì có niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết. 

Niềm tin này đã được củng cố vững vàng hơn với biến cố lich sử về cuộc tử nạn và phục sinh của chính Chúa Giê-su Kitô như Kinh Thánh Tân Ước đã tường thuật tỉ mỉ.(x.Mt.27-28; Mc 15-15, Lc 23-24; Ga 19-20).Từ đó, việc cầu nguyện cho người chết đã trở thành truyền thống trong Giáo Hội cho đến nay vì niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết và vì tín điều các Thánh cùng Thông Công.

Sách Giáo Lý mới của Giáo Hội qua số 958 và số 1032 đã khuyến khích việc cầu nguyện cho kẻ chết dựa vào niềm tin nói trên và vào lời dạy của Thánh Gioan Kim Khẩu sau đây : “Chúng ta hãy cứu giúp và tuởng nhớ đến những ngươì đã qua đời. Nếu con cái Ông Job được thanh luyện nhờ sự hy sinh của Ông, thì tại sao chúng ta lại nghi ngờ rằng những việc hiến dâng của chúng ta sẽ đem lại an ủi cho các linh hồn ấy? Vậy chúng ta đừng ngần ngại cứu giúp những người đã qua đời và cầu nguyện cho họ”[1] .

Như vậy, việc cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời đã có từ thời Cựu Ước và được Giáo Hội Chúa Kito duy trì đến ngày nay là một việc làm rất cần thiết của người Kito hữu. Chúng ta có nhiều cách làm hữu ích cho các linh hồn nơi luyện ngục như đọc kinh cầu nguyện, ăn chay hãm mình đền tội, làm việc bác ái và xin dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn.

B. Bổng lễ

Liên quan đến việc xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn, xin chia sẻ ở đây về bổng lễ (tiền xin lễ) và việc các linh mục dâng lễ.


Khác với các nước ở Châu Âu và Mỹ, linh mục Việt Nam không được trả lương nên nguồn thu duy nhất để sống và làm việc tông đồ của linh mục là bổng lễ.

Thời xa xưa, mỗi khi dự lễ, giáo dân có thói quen đem bánh, rượu để dâng lễ và những quà tặng khác cho linh mục và người nghèo[2]. Đó là nguồn gốc của bổng lễ. Đến thế kỉ XI, thánh lễ được cử hành cách thường xuyên hơn. Sự kiện này dẫn đến việc giáo dân muốn linh mục dâng lễ riêng cho mình và họ dâng thêm một bổng lễ riêng, ngoài những của lễ chung. Dần dần, những bổng lễ riêng đã hầu như thay thế những của lễ chung. 


Về tiền xin dâng một thánh lễ có bổng lễ, Giáo luật điều 848 qui định: “Khi ban các Bí Tích, thừa tác viên không được đòi thêm cái gì khác ngoài số tiền thù lao mà nhà chức trách có thẩm quyền đã ấn định; và phải cẩn thận đừng để những người nghèo không được lãnh Bí Tích vì lý do nghèo túng”.

Nói rõ hơn, khi nhận dâng một thánh lễ do ai xin, linh mục không được phép đòi tiền (bổng lễ) quá mức mà Toà Giám Mục đã ấn định. Cụ thể, ở Việt Nam nói chung và ở Giáo Phận Phát Diệm nói riêng, để đảm bảo một mức sống tối thiểu và để hỗ trợ cho mục vụ trong giáo xứ, thì cho đến nay linh mục được nhận bổng lễ cho mỗi ý lễ xin là 10 đôla (tương đương 200.000 đồng việt nam). Qui định này áp dụng chung cho mọi nhà thờ, giáo xứ, không phân biệt. Nếu một người không có tiền hoặc chỉ có ít tiền mà muốn xin dâng lễ theo ý chỉ, người ấy cứ việc xin lễ với một vị linh mục vì Giáo luật điều 945,2 kêu mời các linh mục trong hoàn cảnh này chấp nhận dâng lễ mà không cần bổng lễ.

Vậy, linh mục không được phép đòi hỏi bổng lễ cao hơn mức Giáo quyền đã qui định.Tuy nhiên, nếu vì lòng hảo tâm mà giáo dân tự ý dâng số tiền cao hơn mức qui định trên thì linh mục được phép nhận mà không có lỗi gì. Cũng cần nói thêm là tiền xin lễ chỉ có giá trị giúp đỡ linh mục “phục vụ Bàn thánh thì được hưởng lộc Bàn thờ” như Thánh Phaolô dạy (x.1Cor 9:13-14). Tiền xin lễ nhiều hay ít tuyệt đối không ảnh hưởng gì đến việc Chúa ban ơn theo ý người xin lễ vì thánh lễ là vô giá và ơn thánh của Chúa thì không thể mua được bằng tiền bạc. Xin ghi nhớ điều quan trọng này để đừng ai lầm tưởng rằng nếu xin lễ với bổng lễ to thì có lợi nhiều cho linh hồn hơn là xin với bổng lễ nhỏ.

Về vấn đề rao các ý lễ trong thánh lễ thì không có luật nào buộc. Chỉ có luật buộc các linh mục “phải ghi cẩn thận những ý lễ đã nhận sẽ làm và những ý lễ đã làm xong”, cũng như phải ghi sổ sách rõ ràng các ý lễ muốn chuyển cho các linh mục hưu chí, và những giáo xứ nghèo khó rất ít người xin lễ (x.Giáo Luật số 955, triệt 3&4).

Giáo dân cũng nên biết rằng mỗi một ngày linh mục chỉ được hưởng một bổng lễ, dù lễ hôm đó linh mục rao tên nhiều ý lễ, dù làm nhiều thánh lễ trong một ngày, dù đồng tế thêm lễ thứ 2, trừ lễ mừng Chúa Giáng Sinh. Bổng lễ thứ 2 trong ngày (nếu được phép của Giám Mục Giáo Phận qui định theo Giáo Luật điều 951), sau khi đã trừ thù lao một nửa để gửi về Tòa Giám Mục, số còn lại với mục đích giúp người nghèo, làm việc bác ái, tông đồ.

Vấn nạn về việc gom ý lễ, tức là linh mục có được phép dâng một thánh lễ với nhiều ý lễ không thì xin được chia sẻ trong một dịp khác.

Lm. Luca Pham Quang Huy
Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội

Thứ ba ngày 20 tháng 3 năm 2013, lúc 19:15
Hỡi con gái yêu dấu của Ta, toàn bộ Cuộc Khổ Hình Thập Giá của Ta đang được tái diễn, và từng phần đều có liên quan với thời điểm dẫn đến Cuộc Quang Lâm của Ta.
Vì Thân Thể của Ta – Giáo Hội của Ta đã phải chịu sự tra tấn trong nhiều năm bởi tà khí của sự dữ, nên giờ đây Mão Gai đang đè nặng trên giới lãnh đạo trong Giáo Hội của Ta.
Khi cái gai thứ ba đâm thủng Mắt Phải của Ta, Ta đã không thể nhìn bằng con mắt này nữa, Ta chỉ có thể nhìn thấy nỗi đau khủng khiếp mà Mẹ Ta đã phải chịu bằng con mắt còn lại. Giờ đây Mão Gai đã đâm nát vị Thủ Lãnh Giáo Hội của Ta ở Rôma, chỉ có một nửa làm chứng cho Sự Thật về những lời tiên tri đã được tiên báo. Nửa còn lại sẽ mù lòa và không nhận thấy sự tổn hại đối với từng phần trên Thân Thể Ta – Giáo Hội của Ta – trong mọi quốc gia trên thế giới.
Như những người mù không thể nhìn thấy, sẽ có những người trong Giáo Hội ở Rôma có thể nhìn thấy Sự Thật, nhưng họ lại không chịu nhìn nhận Sự Thật. Sự Thật sẽ quá đau thương đến nỗi những tôi tớ được thánh hiến của Ta sẽ đi theo con đường dễ dàng hơn. Là những kẻ hèn nhát, họ sẽ chọn con đường mạo phạm hơn là vác thập giá của họ vì Ta.
Và rồi sẽ có những người yêu mến Ta và sự chia rẽ này cũng không thể ngăn cản được họ trong kế hoạch để trợ giúp Ta cứu các linh hồn khỏi cái chết chắc chắn. Những linh hồn dũng cảm này được đầy tràn Lửa của Chúa Thánh Thần và họ sẽ chiến đấu để bảo vệ những Bí Tích Thánh Thiêng của Ta. Họ là hàng giáo sĩ sẽ nuôi dưỡng đàn chiên của Ta trong suốt cuộc bách hại. Những linh hồn hết sức tinh tuyền này sẽ được ban cho mọi ân sủng và họ sẽ dẫn dắt đạo binh còn sót lại của Ta đến cổng Trời Mới và Đất Mới.
Cần phải có lòng can đảm lớn lao để có thể đón nhận những ngôn sứ của Thiên Chúa. Thật không bao giờ dễ dàng để có thể lắng nghe lời của các ngôn sứ, những lời đâm thấu tâm can người ta như thanh gươm hai lưỡi. Những lời cảnh báo của họ gây đau đớn tâm hồn nhưng lại ngọt ngào vì những thành quả mà lời họ mang lại, vì khi Lời của Thiên Chúa được ban như một Tặng Ân thì Lời đem lại ơn cứu rỗi. Hãy đón nhận Lời Chí Thánh của Ta, như thể sợi dây cứu sinh của các con. Hỡi các tín hữu yêu dấu của Ta, các con đã được Ấn Tín của Thiên Chúa Hằng Sống bảo vệ vì thế các con không bao giờ được phép sợ hãi.
Kẻ thù của các con sẽ nguyền rủa, sỉ nhục và có thể bách hại các con, nhưng Ta, Chúa Giêsu Kitô, sẽ đồng hành với các con. Trước Mắt Ta, các con là một số ít những người được chọn, những người đáp lại lời mời gọi của Ta, nhờ vào sự hy sinh của các con, các con sẽ cứu được phần lớn nhân loại.
Ta chúc lành cho các con, Ta ban bình an và sức mạnh cho các con, để các con có thể bước theo Ta mà không sợ hãi trong tâm hồn.
Chúa Giêsu của các con
Chuyển dịch từ nguồn: The Book of Truth

ĐỨC MẸ LÀ MẸ GIÁO HỘI HIỆN RA Ở GARABANDAL TÂY BAN NHA NĂM 1961-1965 ĐÃ DẠY GIÁO HỘI HÃY LUÔN SUY NGẮM CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ; VÀ CHÚA ĐÃ MẠC KHẢI 24 GIỜ KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ CHO TÔI TỚ CHÚA LÀ LUISA PICCRRETTA MÀ CHÚA ĐÃ GỌI LÀ ÁI NỮ THƠ BÉ CỦA THÁNH Ý CHÚA TỪ NĂM 1916 ĐẾN NAY ĐÃ 98 NĂM RỒI. 

VẬY THÌ GIỜ ĐÂY TỪNG NGƯỜI CÔNG GIÁO HÃY VÂNG LỜI ĐỨC MẸ LÀ MẸ GIÁO HỘI MÀ SUY GẪM VÀ TRUYỀN BÁ VIỆC SUY GẪM 24 GIỜ KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ THEO MỆNH LỆNH CỦA ĐỨC MẸ ĐỂ CẦU NGUYỆN XIN CHÚA BAN CHO TÒA THÁNH NHẬN RA SỰ U MÊ CỦA MÌNH KHI BAN CHO MỌI NGƯỜI QUYỀN KHÔNG TIN MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA BAN CHO GIÁO HỘI.

XIN MỌI TÂM HỒN YÊU MẾN CHÚA HÃY LUÔN LUÔN; HÃY LIÊN TỤC SUY GẪM 24 GIỜ KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ ĐỂ ĐƯỢC YÊU CHÚA; YÊU CHÚA NGÀY CÀNG MÃNH LIỆT HƠN; DÂNG HIẾN TRỌN VẸN HƠN; VÀ NHƯ THẾ MỚI CỨU ĐƯỢC NHIỀU LINH HỒN HƠN VÀ CHÚA SẼ ĐƯỢC VUI HƠN.


Mẹ của Ơn Cứu Rỗi: Các con hãy cầu cho sự bảo vệ Giáo Hội của Con Mẹ trên thế giới (10/02/2015)
Thứ ba ngày 10 tháng 2 năm 2015, lúc 14:36
Hỡi các con thân yêu của Mẹ, điều quan trọng là tất cả các con hãy đọc những Chiến Dịch Cầu Nguyện và đọc Kinh Mân Côi Rất Thánh của Mẹ như là một phần trong đời sống cầu nguyện hàng ngày của các con. Các con có thể chọn đọc bất cứ Chiến Dịch Cầu Nguyện nào mà các con yêu thích, không nhất thiết phải đọc hết mọi Chiến Dịch Cầu Nguyện mà chỉ cần đọc những Chiến Dịch Cầu Nguyện theo ý cầu nguyện của các con. Các con phải đọc Kinh Mân Côi Rất Thánh của Mẹ mỗi ngày để bảo vệ các con trước ảnh hưởng của tên ác quỷ.

Việc cầu nguyện đưa các con đến gần với Thiên Chúa hơn và bảo vệ linh hồn của tất cả những người mà các con cầu xin Thánh Tử của Mẹ bảo vệ họ khỏi quyền lực của tên lừa dối. Lời cầu nguyện là khí giới mạnh mẽ nhất để chống lại sự dữ và các con không bao giờ được phép coi thường sức mạnh của lời cầu nguyện.

Các con hãy cầu cho sự bảo vệ Giáo Hội của Con Mẹ trên thế giới và các con hãy cầu xin Thánh Tử của Mẹ ban Lòng Thương Xót của Người cho bất cứ ai đang tìm cách gây khổ hình cho Giáo Hội của Người. Giáo Hội của Người - là Nhiệm Thể và là Đền Thờ của Con Mẹ - cũng là con đường qua đó tất cả mọi vinh quang đều quy hướng về Thiên Chúa. Những Giáo Huấn, Lời Chúa và Thánh Thể Cực Trọng, Mình và Máu của Chúa Giêsu Kitô, Con Mẹ, là những Tặng ân mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại vì phần rỗi của nhiều linh hồn. Các con phải bảo vệ Sự Thật và phải chuẩn bị để đón nhận Lòng Thương Xót của Con Mẹ.

Mẹ khẩn thiết kêu gọi các con hãy cầu nguyện cho linh hồn những người chối bỏ Sự Thật và hãy nài xin Thánh Tử của Mẹ tuôn đổ Lòng Thương Xót của Người trên linh hồn họ. Thánh Tử của Mẹ là Sự Sống. Tất cả Sự Sống đến từ Người. Nếu các con khước từ Thánh Tử của Mẹ thì các con sẽ không có sự sống trong Vương Quốc tương lai của Người.

Thánh Tử của Mẹ đã nhờ Mẹ nài xin các con thêm nhiều lời cầu nguyện cho linh hồn những ai sẽ khước từ Người. Người sẽ đón nhận lời cầu nguyện mà các con dâng lên để cầu cho tất cả những người thân yêu của các con và những người sẽ không thể nào đón nhận được ánh Sáng khi ánh Sáng chiếu soi rực rỡ vào bao trùm nhân loại.

Những linh hồn tràn ngập tình yêu và nhân đức khiêm nhường, vốn là những điều cần thiết để đón nhận Thánh Tử của Mẹ, sẽ là những người hân hoan vui mừng. Những người có linh hồn tăm tối sẽ khước từ ánh Sáng vì họ cảm thấy hết sức đau đớn để nhìn nhận Sự Thật. Từ hôm nay trở đi, mỗi ngày các con hãy hết lòng cầu nguyện cho những linh hồn hết sức cần đến Lòng Thương Xót của Con Mẹ.

Nếu không có những lời cầu nguyện của các con, thì nhiều người sẽ bị hư mất và muôn đời họ sẽ khao khát sự Hiện Diện của Người, nhưng họ sẽ không thể nào tìm thấy Người.

Mẹ ban cho các con tình yêu của Mẹ, sự che chở và bình an của Mẹ. Xin các con hãy đáp lại lời mời gọi của Mẹ vì phần rỗi của nhiều linh hồn.

Mẹ yêu dấu của các con

Mẹ của Ơn Cứu Rỗi

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

VỊ GIÁO HOÀNG ÁP CUỐI CỦA THỜI SAU HẾT THEO LỜI TIÊN TRI CỦA THÁNH MALACHY? 

Vào Tuần Thánh năm 2010 này, quyền lực bóng tối đã khai hỏa cuộc tổng tấn công đánh thẳng vào Vatican, vào vị lãnh đạo giáo hội Công giáo là ĐGH Biển Đức XVI, sau cả chục năm các mặt trận truyền thông bùa phép bủa vây đánh vòng quanh ở nhiều nơi và nhiều phía. Và sau đó là các cơ quan từ tầm cỡ lớn đến các tờ báo ở mỗi địa phương đều đồng loạt tiền pháo hậu xung liên tiếp trong nhiều ngày, có bài bản, theo đúng chiến thuật và chiến lược trong một chiến dịch tổ chức qui mô như nhận định của giáo sư Elizabeth Lev. 
Tự nhiên nhiều người nhắc tới lời tiên tri của thánh Malachy được ghi lại vào năm 1139 khi viếng Roma, về 112 vị giáo hoàng, mà ĐGH Biển Đức là vị áp cuối cùng. 
Đức Giáo Hoàng áp cuối cùng, tức thứ 111, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy là "Vinh Quang của Cành Ô-liu" (Gloria Olivæ, the Glory of the Olive). Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo Hội trong thời kỳ khởi đầu cuộc bách hại.
Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Ô-liu. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedictô đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của thế giới, người của nhà dòng ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy là "Phêrô thành Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân." 
LẤY TÊN LÀ BÊNÊĐICTÔ
Những ngày sửa soạn bầu giáo hoàng kế vị Đức Gioan Phaolô II vào tháng 4 năm 2005, tôi tự nhiên nhớ lại hình như đâu đây có lời tiên tri về các vị giáo hoàng. Thế là tôi đã tìm trong mạng lưới và thấy ngay. Những lời tiên tri này là của thánh Malachy vào năm 1139. Ngài là giám mục giáo phận Armagh bên Ái nhĩ lan. Năm đó ngài có dịp về Roma bái kiến ĐGH Innocentê II. Trong thời gian ở đó, ngài đã thấy một thị kiến về 112 vị giáo hoàng sau đó, liền viết ra và trao cho ĐGH Innocentê II. 
Mỗi vị giáo hoàng đều được nói tới qua một câu bằng tiếng La-tinh diễn tả đặc điểm. Những lời tiên tri về các vị giáo hoàng trước đây khá đúng cách này hoặc các khác. Lời tiên tri về ĐGH Gioan Phaolô II là "De Labore Solis" nghĩa là Mặt Trời Lam Lũ hay Nhật Thực. Quả thực cuộc đời của ngài ra đi không ngừng nghỉ cho đến những ngày già cả bệnh tật cuối cùng.
Buổi tối ngày 18 tháng 4 năm 2005, ngày đầu tiên bầu giáo hoàng mà chưa có kết quả, tôi ngồi đọc những lời tiên tri trong danh sách 112 vị giáo hoàng, thì ĐGH Gioan Phaolô II là thứ 110. Và đức giáo hoàng kế vị sẽ là thứ 111, áp cuối cùng trong danh sách. 
Đây là vị giáo hoàng áp cuối vào thời sau hết? Câu nói trong lời tiên tri thánh Malachy về vị giáo hoàng này là "Vinh Quang Ngành Ô-liu" (Gloria Olivae, the Glory of the Olive). Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình. Dòng thánh Benedictô nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của cành ô-liu". (The Benedictine order traditionally said this Pope would come from their order). Thánh Benedictô (Biền Đức) đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
Đọc xong tôi tự hỏi liệu những lời trên đây sẽ nghiệm tới cỡ nào. Vì trong các hồng y kỳ này có ai là từ dòng Bênêdictô đâu! 
Vậy là ngày hôm sau, 19 tháng 4, vào lúc 5:45 chiều giờ Roma (tức lúc 10:45 sáng giờ New Orleans), tôi mở TV thì thấy khói trắng đang bốc ra từ ống khói trên nóc nhà nguyện Sistine. Mọi người đang tuốn vào công trường thánh Phêrô để chứng kiến giây phút lịch sử. Đúng 6:05 thì chuông nhà thờ thánh Phêrô vang lên reo vui. Và giây phút quan trọng đã đến: đúng 6:40 chiều (giờ Roma) thì đức hồng y Jorge Medina Estivez tiến ra bao lơn đền thờ thánh Phêrô tuyên bố: "Habemus Papam" nghĩa là "Chúng Ta Đã Có Giáo Hoàng." Nhiều người hồi hộp chờ đợi, nghĩ rằng vị giáo hoàng mới chắc thế nào cũng lấy tên là Gioan Phaolô III để theo bước chân vị mục tử đang quá nổi tiếng. 
Lời tuyên bố tiếp: vị giáo hoàng mới là đức hồng y Josef Ratzinger, lấy tên là Benedictô XVI. 
Nghe vậy tôi bèn giật bắn người lên. Sao lần này lời tiên tri lại có thể đúng quá như thế. Chỉ khác là đức hồng y Josef Ratzinger không phải là người thuộc dòng Benedictô, nhưng lại lấy tên là Benedictô để nói lên cái tinh thần của thánh Benedictô chăng?
Thế là biết bao nhiêu suy diễn đầy tràn trên các mạng lưới. Rằng sắp đến ngày tận thế! Vì chỉ còn một vị nữa là hết danh sách! Câu nói tiên tri về vị giáo hoàng cuối cùng, tức thứ 112 là "Phêrô thành Rôma." "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội Rôma, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân."
AI LÀ MALACHY?
Thánh Malachy sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội lấy tên La-tinh là Maelmhaedhoc, nhưng ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo, thụ phong linh mục vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachy qua đời trong lúc hành hương Rôma lần thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachy là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế. 
Thánh Malachy có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này - từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachy, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô thành Rôma."
Thánh Malachy viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachy mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachy. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachy mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria."
Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của thánh Malachy, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. 
CHAO ĐẢO HAY ĐỊNH HƯỚNG?
Hình như thiên hạ thích suy diễn về ngày tận thế. Ngay thời trước 1975 ở Việt Nam, lâu lâu dân chúng lại đổ đi mua nến vì sẽ có tối trời ba ngày! Rồi tới thời điểm chuyển sang thiên niên kỷ mới năm 2000, thiên hạ lại càng nhiều xôn xao. 
Danh sách chỉ có 112 không có nghĩa là không còn vị nào nữa. Thánh Malachy chỉ nhìn thấy tới đó thì sao? Mà thời tận cùng là thời kỳ gì? Tận cùng các vị giáo hoàng từ Âu châu? Tận cùng thời giáo hội bị điêu đứng, bị chao đảo, bị tấn công từ nhiều phía? Cứ nhìn vào những "bàn tay lông lá" của những "bạo chúa" truyền thông những năm qua và những ngày vừa qua thì rõ. Muốn dán nhãn hiệu xấu hay tốt, bảo thủ hay cấp tiến là cứ tự tiện khuynh đảo hành xử.
Tại sao đức tân giáo hoàng không lấy tên là Gioan Phaolô III mà lại chọn là Bênêđictô XVI? Điều này có liên hệ gì tới cành ô-liu hay tinh thần thánh Biển Đức và dòng Biển Đức? 
Nhiều người đã tiết lộ là đức hồng y Josef Ratzinger mỗi lần tĩnh tâm thường tới nhà dòng Monte Cassino ở gần Roma, là nơi thánh Biển Đức đã lập dòng vào thế kỷ thứ 6. Thánh Biển Đức đã khơi lên trong giáo hội một trào lưu nội tâm là đường hướng tốt nhất để vượt qua những chao đảo và bảo toàn được Giáo Hội vào thế kỷ thứ 6. 
Thế là mọi người đều tìm đọc bài giảng của đức hồng y Josef Ratzinger trưởng hồng y đoàn trong ngày khai mạc cơ mật hội. Và vỡ lẽ ra rằng đây không ngờ mà lại là một bài giảng mang tính chất tiên tri và viễn kiến mở hướng đi cho giáo hội đầy tin tưởng lạc quan trong những ngày sắp tới.
"Chúng ta không thể cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin, trong trạng thái vị thành niên. Cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin nghĩa là gì? Thánh Phaolô trả lời: nghĩa là “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.” (Eph 4:14). Một diễn tả rất thời sự!
Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà chúng ta đã biết đến trong những thập niên cuối cùng… Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân. Nhiều giáo phái mới được đẻ ra mỗi ngày và xảy ra điều mà Thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (x Eph 4:14). Có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất."
TIN VUI CHIẾN THẮNG VINH QUANG CỦA CÀNH Ô-LIU (Chúa nhật 4c Mùa Phục sinh)
Vậy là câu trả lời đã khá rõ. Trong những tù mù xáo trộn bị sóng đánh trôi dạt, hãy tìm vào đời sống nội tâm và bầu khí phụng vụ thánh thiêng như tinh thần của thánh Biển Đức. Đây là lời quả quyết của chính đức hồng y Ratzinger trong bài giảng trên:
"Trái lại chúng ta có một mẫu mực khác, đó là Con Thiên Chúa, là người thật. Ngài là thước đo của chủ nghĩa nhân bản đích thật. Đức tin “trưởng thành” không phải là một đức tin trôi theo những làn sóng thời thượng hay mốt mới. Đức tin với vóc dáng đầy đủ và trưởng thành là một đức tin ăn rễ sâu xa nơi tình bằng hữu với Chúa Kitô."
Tin Mừng tuần này trả lời như vậy. Đang khi quyền lực bóng tối xem chừng tung hoành lấn lướt và nhiều người nghĩ Chúa như ngủ quên để mặc, thì Chúa có mặt ra tay và giõng giạc tuyên bố: 
27 “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.” (Gioan 10:27-28)
Trong lúc thiên hạ bàn tán về một ngày tận thế mơ hồ nào đó, trong lúc nhân loại càng lún sâu vào xô xát giẫy giụa do những xung khắc tham vọng quyền lực hay những bùa phép toàn cầu của "trật tự mới", khiến lòng người chao đảo, tâm hồn tín hữu xôn xao mất hướng đi, ĐGH Biển Đức XVI đang mở hướng đối thoại hòa giải và hóa giải. Mọi người đang chờ đợi một vị lãnh đạo, với cành ô-liu vinh thắng, tiếp tục hô to như ĐGH Gioan Phaolô II: "Đừng Sợ!" Vì chính Chúa là con đường và là người dẫn đường. Dù chỉ với con người dòn mỏng, ĐGH Gioan Phaolô II đã làm thay đổi thế giới và lòng người thời đại. Dù với bàn tay run rẩy của tuổi già bệnh tật, ĐGH Gioan Phaolô II vẫn thu hút cả mấy triệu người trẻ trong mỗi dịp đại hội giới trẻ thế giới. Và ngay dù đã nằm xuống, xác thân bất động, con người với ơn thánh đó đã kéo biết bao triệu người tuốn về Roma trong ngày vỗ cánh bay lên. Đó là sức mạnh của niềm tin và của con tim nhân ái xóa bỏ được mọi làn ranh.
"Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa." (Gioan 14:12)
TỪ MỘT THỜI BỊ NGUYỀN RỦA TỚI MỘT THỜI ĐƯỢC CHÚC PHÚC 
Sắp sửa tận thế hay sửa soạn một thời ân sủng? Bài giảng mang chất tiên tri này đã xướng lên ngay từ đầu: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh này" (Lc 4:21), là "công bố một năm hồng ân của Chúa." 
Bênêdictô từ tiếng La-tinh có nghĩa là Được Chúc Phúc, Được Ban Hồng Ân. Ở đây chữ "Lòng Thương Xót Chúa" (Divine Mercy) được nhắc đi nhắc lại. Bởi chính Đức Kitô đã bằng lòng mang lấy "toàn bộ gánh nặng của sự ác, toàn thể quyền năng hủy diệt của nó." Ngài đã trả giá cho những hồng ân đó bằng nhận lấy "ngày báo phục của Thiên Chúa" (Is 61:2)
“Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá”(1 Pet 2:24). Và Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Galát : “Đức Ki-tô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ! Như thế là để nhờ Đức Giê-su Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Áp-ra-ham, và để nhờ đức tin, chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí.” (Gal 3:13).
Như thế, thay vì nhiều người cứ nghĩ tới ngày "bị nguyền rủa," bằng chính những hành động tự hủy của con người như thảm cảnh Nhà Tháp Đôi ở New York hay những vụ ôm bom tự sát để "đóng cửa trần gian," ĐGH Biển Đức mang danh hiệu đầy chất tiên tri "Được Chúc Phúc" đang mở ra một thời hồng ân của cuộc chiến thắng do chính Chúa Giêsu dẩn đầu. Đây lại chẳng phải là một lời tiên tri trong một viễn kiến đầy tin tưởng, hy vọng và tươi sáng hay sao?
“Hãy can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” (Gioan 16:33)
Lm. Trần Cao Tường
---
Xin mời xem Những Lời Tiên Tri Liên Quan Tới 112 Vị Giáo Hoàng, 
LỜI TIÊN TRI CỦA THÁNH MALACHY VỀ CÁC ĐGH THỜI CUỐI CÙNG
Lời ngỏ: Đây là bản dịch về lời tiên tri của thánh Malachy về các Đức Giáo Hoàng thời cuối cùng. Bài này không có ý gây lo sợ, bởi vì những người tin vào Chúa Kitô thì không có gì phải sợ, và chính Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã nhất mạnh: "Đừng sợ!". Cần cầu nguyện để xin Thiên Chúa soi sáng khi phân định lời tiên tri này.
Thánh Malachi sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội với tên gọi Maelmhaedhoc. Tên Maelmhaedhoc được La-tinh hóa và ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo. 
Ngài được thụ phong vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachi qua đời trong lúc hành hương Rôma lần thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachi là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế. 
Thánh Malachi có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này - từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachi, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô thành Rôma".
Thánh Malachi viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachi mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachi. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachi mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria".
Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của Thánh Malachi, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. Có tất cả 112 vị Giáo hoàng với những chân tính được liệt kê kể từ Đức Giáo Hoàng Celestine II năm 1143 cho tới thời tận cùng của thế giới.
10 GIÁO HOÀNG SAU CÙNG
1. Đức Giáo Hoàng Piô X 1903-1914, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Lửa Cháy", tên thật là Giuseppe Melchiarre Sarto. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, lục điạ Âu châu bùng cháy cuộc chiến tranh như đám lửa cháy lan từ quốc gia này tới quốc gia khác cho mãi tới năm 1914, chiến tranh đã bao phủ toàn bộ lục điạ Âu châu.
2. Đức Giáo Hoàng Benedict XV (1914-1922) biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Tôn Giáo Tiêu Tàn", tên thật là Giacomo Della Chiesa. Đức Giáo Hoàng Benedict XV được biết đến là Đức Giáo Hoàng của chiến tranh, vì lửa chiến tranh bất hòa làn tràn khắp ra thế giới. Ngài đã chứng kiến chủ nghĩa cộng sản đi vào Liên Bang Sô Viết khiến đời sống tôn giáo bị tiêu huỷ, chiến tranh thế giới thứ nhất gây thương vong cho hàng triệu người Kitô giáo như trong cuộc tàn sát ở cánh đồng Flanders và ở nhiều nơi khác.
3. Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-1939), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Đức tin sắt son", tên thật là Achilee Ratti. Là vị Giáo hoàng chứng kiến thế giới chuẩn bị cho một hậu quả của một cuộc chiến để chấm dứt các cuộc chiến. Ngài chứng kiến phong trào phá thai ở Âu châu ra đời, và sự phát triển của chủ nghĩa vô thần được giảng dạy cho các giới trẻ trong các trường đại học và đầu độc để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đầu óc những người công dân của một trật tự thế giới mới. 
4. Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Mục tử thiên thần", tên thật là Eugento Pacelli. Ngài đã dành thời giờ trong thời gian đầu làm giáo hoàng trong lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican. Ngài là sự chọn lựa tự nhiên theo sau Đức Giáo hoàng Piô XI vì không có vị lãnh đạo giáo hội nào có đủ kinh nghiệm điều hành giáo hội, và với các lãnh đạo quốc gia trong cuộc xung đột thế giới.
5. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Chủ chăn và thuỷ thủ", tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli. Đức Gioan 23 là tổng Giám Mục Areoplis của Palestine trong khoảng thời gian khai sinh quốc gia Dothái, năm 1953 Đức Giáo Hoàng Piô XII phong ngài làm Hồng Y của Venice. Ngài được xem là vị Giáo hoàng được yêu mến nhất trong các Đức Giáo Hoàng cận đại. Những sử học gia tin rằng ngài được Thánh Malachi tiên tri là thuỷ thủ vì thành phố Venice là một thành phố nước. Thế nhưng cũng có thể khi ngài là tổng Giám mục của Palestine, ngài được coi là một "thuỷ thủ rao giảng" bởi vì miền đất của dân ngoại và Hồi giáo có liên quan trong lời tiên tri là "biển cả".
6. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Hoa của các loài Hoa" tên thật là Giovanni Battista Montini, Ngài làm Giáo hoàng 15 năm. Danh hiệu của ngài là ba bông hoa huệ Iris.
7. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (1978-1978 - 33 ngày), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "trăng bán nguyệt", tên thật là Albino Buciani, là vị Giáo hoàng chăn dắt Giáo hội trong thời gian ngắn nhất là 33 ngày. Khi ngài được bầu Giáo hoàng ngày 26/8/1978, là thời gian có trăng hình bán nguyệt. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo quá khích chống lại thế giới dân ngoại bùng nổ. Tổ chức OPEC dầu hỏa ra đời, và các quốc gia Ảrập dùng vũ khí dầu hỏa của họ để chống lại các quốc gia kỹ nghệ. Dấu hiệu của Hồi giáo là hình "trăng bán nguyệt". 
8. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Nhật thực" hay cũng còn có nghĩa là "Mặt trời lam lũ". Ngài là hoàng tử người Balan của Giáo hội Công giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đã có công trong việc làm cho chủ nghĩa cộng sảng sụp đổ. Trong suốt 25 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tông du nước ngoài trên 100 lần và cái chết lịch sử của Ngài đã lôi kéo trên 3 triệu người tham dự tang lễ. Ngày ngài sinh ra ngày 18/5/11920 vào buổi sáng có hiện tượng nhật thực trên toàn cõi Âu châu, và ngày ngài qua đời cũng có nhật thực bán phần trên vùng trời Bắc Mỹ. 
9. Đức Giáo Hoàng áp cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi là "Vinh Quang Cành Ô-liu". Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Ô-liu. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedictô đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
10. Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Phêrô thành Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân." 

Trở ngại với những lời tiên tri được liệt kê trong sách Những Lời tiên tri của Thánh Malachi xuất bản bởi Thomas A. Nelson, một nhà sách xuất bản Công giáo thì bản nguyên thuỷ của Thánh Malachi chỉ có 111 Đức Giáo Hoàng, chứ không phải là 112 như trong bản màu nâu xuất bản sau này. Trong khoảng giữa ấn bản thứ nhất và ấn bản sau này thì vị Giáo hoàng 112 là Phêrô Thành Rôma được thêm vào trong lời tiên tri của Thánh Malachi.
Theo Thanhlinh.net

NGHE RADIO CÔNG GIÁO

SỨ ĐIỆP

complex{fbig2}/Su Diep Chua Giesu,Su Diep Chua Cha,Su Diep Duc Me

SỐNG ĐẠO

complex{fbig2}/Song Dao,Cac Thanh,Guong Sang,Cau Nguyen

ĐIỀM BÁO

complex{fbig2}/Dau Chi Thoi Dai,Dau Hieu Thoi Cuoi,Diem Bao

GIÁO HỘI

complex{fbig2}/Tin Giao Hoi,Vatican,Giao Hoang

CHIA SẺ

complex{fbig2}/Suy Tu,Chia Se,Suu Tam

ĐỜI SỐNG

complex{fbig2}/Tong Hop, Suc Khoe, Doi Song

NGHE

complex{fbig2}/Audio, Bai Giang, Am Nhac

XEM

complex{fbig2}/Video, Thanh Ca,

ẢNH

[Duc Giao Hoang][gallery2]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.