Bài Viết by "Giáo Hội Hoàn Vũ"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội Hoàn Vũ. Hiển thị tất cả bài đăng

Tác giả: John-Henry Westen
STECHT, Hà Lan, ngày 7 tháng 5 năm 2018 (LifeSiteNews) – Đức Hồng y đã nói rằng Giáo Hoàng Phanxicô không duy trì đức tin chân chính của Giáo Hội khiến ông suy nghĩ về Giáo Lý và những lời tiên tri của Giáo Hội Công Giáo về “Dấu hiệu thời cuối” của Giáo Hội trước khi cuộc quang lâm trở lại lần thứ hai của Đức Kitô.
Đức Hồng Y Willem Eijk, 64 tuổi, Đức Tổng Giám mục Utrecht, đã đưa ra nhận xét đáng ngạc nhiên trong một bài báo được công bố ngày hôm nay tại tờ National Catholic Register.
Đức Hồng Y Eijk, được Đức Giáo Hoàng Benedict XVI phong chức Hồng Y vào năm 2012, nhận bằng y khoa trước khi thụ phong linh mục và tiếp tục hoàn thành ba tiến sĩ về y học, triết học và thần học.
Trong bài báo, Đức Hồng y than phiền sự thất bại của Giáo Hoàng Phanxicô đã không rõ ràng về câu hỏi về sự hòa giải với Tin Lành trong cuộc họp tuần trước tại Vatican với các giám mục Đức. Giáo Hoàng nói với các giám mục Đức nên có được sự đồng thuận nhất trí về vấn đề này, nhưng, Đức Hồng Y Eijk nói: Một cách đơn giản là Giáo Hoàng nên nhắc nhở họ về giáo lý và thực hành rõ ràng của Giáo Hội.
“Bởi vì không tạo ra sự rõ ràng, sự nhầm lẫn lớn lao được tạo ra giữa các tín hữu và sự hiệp nhất của Giáo Hội đang bị đe dọa,” ông nói.
Đức Hồng Y nói: “Quan sát rằng, các giám mục và trên tất cả người kế vị của Phêrô không duy trì và truyền đạt một cách chân thành và thống nhất nền tảng đức tin chứa đựng trong Truyền thống và Thánh Kinh, tôi không thể không nghĩ đến Điều 675 của Giáo lý Giáo hội Công giáo.”
Bài giảng, mà Đức Hồng Y trích dẫn đầy đủ, cảnh báo về một dấu hiệu sẽ “làm rung chuyển đức tin của nhiều tín hữu.” Nó tiên tri một cuộc bách hại “tiết lộ ‘bí ẩn của sự gian ác’ dưới hình thức một người đàn ông lừa dối Đức Tin. Một sự bội giáo và chối bỏ sự thật.”
Đức Hồng y Eijk cảnh báo công khai năm ngoái rằng, do không giảng rõ sự giảng dạy của Giáo Hội về ly dị và tái hôn, Giáo Hoàng Phanxicô đã làm “rạn nứt” Giáo Hội.
Đức Hồng y Eijk không phải là Hồng Y đầu tiên nhận ra sự nhầm lẫn trong Giáo Hội do Giáo Hoàng Francis gây ra như một dấu hiệu của thời kỳ cuối cùng. Tại Diễn đàn Cuộc sống Rome năm ngoái, Đức Hồng y Carlo Caffarra cuối cùng đã nói về sự nhầm lẫn trong Giáo hội về hôn nhân và gia đình là việc thực hiện lời tiên tri mà ông nhận được.
Trong một bức thư Hồng y Caffarra nhận được từ Lucia, thị nhân Fatima đã viết rằng “trận chiến cuối cùng giữa Chúa và vương quốc Satan sẽ là về hôn nhân và gia đình.
Tại Diễn đàn Cuộc sống Rome Ngài nói: “Hiện ngay tại bây giờ, Trận chiến cuối cùng đang thực sự diễn ra”
Đức Hồng y Burke cũng đã xác định được sự nhầm lẫn và sai lầm trong Giáo hội Công giáo dưới thời Giáo hoàng Francis. “Người ta có thể có cảm nhận thấy rằng trong Giáo Hội đang lộ ra sự bất tuân đối với các huấn lệnh của Thiên Chúa,” Đức Hồng Y Burke nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ Catholic Herald vào tháng Mười Một. “Vì vậy có lẽ chúng ta đã đến thời kỳ cuối cùng rồi.”
Share this...

Cảnh sát Ấn Độ đang tìm kiếm người giữ thánh địa có mâu thuẫn với cha Xavier Thelakat trước đó
Cha giám quản thánh địa ở Kerala bị đâm chết
Cha Xavier Thelakat, giám quản Thánh địa Quốc tế Thánh Tôma trong bang Kerala của Ấn Độ bị đâm chết hôm 1-3, theo các viên chức của tổng giáo phận Ernakulam-Angamaly.
Cảnh sát đang tìm kiếm người giữ thánh địa có mâu thuẫn với vị linh mục 52 tuổi và người ta nhìn thấy người này bỏ chạy khỏi hiện trường.
“Các vết thương nằm ở chân. Dường như động mạch ở đùi ngài bị đứt và ngài chết vì mất máu do chậm trễ trong việc đưa ngài đến bệnh viện”, cha Paul Karedan, người phát ngôn cho tổng giáo phận, kể với ucanews.com.
Thánh địa nằm trên một ngọn đồi cao khoảng 366 thước so với mực nước biển. Cha Xavier ở giữa đường lên đồi trong một vùng xe môtô không thể đi qua khi vụ tấn công xảy ra.
“Phải mất ít nhất một tiếng đồng hồ để đưa nạn nhân xuống và sau đó mất thêm một thời gian nữa để đưa đến bệnh viện. Sự việc xảy ra vào giờ trưa”, cha Karedan cho biết.
Người giữ thánh địa, chỉ được biết có tên là Johnny, có cảm nghĩ xấu về vị linh mục đảm nhận chức giám quản cách đây 7 năm. Vị linh mục muốn đuổi việc Johnny sau khi có người phàn nàn về lối sống thiếu đạo đức của ông ta, một vị linh mục lớn tuổi kể.
Thánh địa đặc biệt quan trọng đối với người Công giáo Syro-Malabar theo nghi lễ phương Đông vì được xem là nơi được Thánh Tôma Tông Đồ đến thăm, và đức tin Công giáo của họ bắt nguồn từ ngài.
Theo truyền thuyết, Thánh Tôma đến vùng bờ biển này năm 52 sau công nguyên và ở đó 20 năm. Thánh địa nằm trên một ngọn đồi nơi người ta tin rằng Thánh Tôma đã dành những giờ cầu nguyện một mình ở đó.
Vatican nâng thánh địa cổ này lên thành thánh địa Công giáo quốc tế năm 2004.
Nguồn tin: UCAN

CÁC VỊ HỒNG Y ĐANG THẮC MẮC VỀ TÔNG HUẤN NÓI: BẤT CỨ AI CHO PHÉP NGUỜI NGOẠI TÌNH RƯỚC LỄ "LÀ MỘT KẺ DỊ GIÁO VÀ THÚC THÚC ĐẨY SỰ LY GIÁO"

27/12/2016 Thời Sự

ROME, ngày 23 tháng 12 năm 2016. (LifeSiteNews) – Trong một cuộc phỏng vấn mới với tờ báo Đức Der Spiegel, một trong bốn vị Hồng Y từng đưa ra nghi ngờ đã nói: “Bất cứ ai nghĩ rằng người cố chấp sống ngoại tình có thể thích ứng với việc Rước Lễ là một kẻ dị giáo và thúc đẩy sự ly giáo”.
Đức Hồng Y Walter Brandmuller đưa ra nhận xét trong khi nói chuyện với phóng viên Spiegel Walter Mayr về những nghi ngờ – những câu hỏi vẫn chưa có câu trả lời từng được bốn Hồng Y công khai và chính thức yêu cầu làm rõ những lời giải thích có khả năng mang tính dị giáo của ĐGH trong Tông Huấn Amoris Laetitia của ngài.

Trong một cuộc phỏng vấn do đài Vatican Radio phát hành ngày hôm nay, Hồng Y Walter Kasper tâm phúc của Giáo Hoàng đã nói rằng ĐGH đã rõ ràng trong Amoris Laetitia và ngài khẳng định hiểu biết về các tuyên bố của mình trong việc phê duyệt phương pháp tiếp cận của các giám mục người Argentina. Bức thư gửi cho các giám mục người Argentina mà Hồng Y Kasper đề cập có nói ĐGH Francis nói rằng thật chính xác để giải thích Amoris Laetitia trong một cách thức mà cho phép Rước Thánh thể trong những trường hợp giới hạn đối với các cặp vợ chồng ly dị và tái hôn vốn không có khả năng hủy hôn.

Trong các điều khoản Công giáo, vốn mang ý nghĩa là hiệp thông dành cho những người sống trong tình trạng ngoại tình theo chính lời của Đức Kitô: (Lc 16,18) “Người đàn ông nào ruồng rẫy vợ mình và lấy vợ khác thì phạm tội ngoại tình, và người nào kết hôn với một người phụ nữ đã ly hôn chồng cũng phạm tội ngoại tình”.

Tóm lại các tuyên bố chứng minh sự khác biệt rõ rệt giữa các phương pháp tiếp cận khác nhau của các Hồng Y đối với sự nghi ngờ. Trong khi đối với một số sự cởi mở làm thay đổi Giáo Hội về vấn đề này có nghĩa là dị giáo hoàn toàn, vì đối với những người khác thì đó là một tiến hóa cần thiết và được Thần Khí hướng dẫn về giáo huấn của Giáo Hội hoặc ít nhất là việc thực hành mục vụ.

Đức Hồng Y Brandmuller nói với Der Spiegel rằng hàng giáo sĩ không có quyền thay đổi giáo huấn của Đức Kitô. Ông nói “Chúng tôi là, theo Tông Đồ Thánh Phaolô, những người thừa hành các mầu nhiệm của Thiên Chúa, chứ không phải là người có quyền định đoạt”.

Sự khác biệt rõ rệt giữa các nhà lãnh đạo hàng đầu của Giáo Hội Công Giáo đã dường như không được ĐGH đánh giá cao. Đăng tải của Mayr Der Spiegel nói đến một câu nói đồn đại về Giáo hoàng Francis nói với “một vài người thân cận”, trong đó ngài nói: “Xin đừng quên rằng tôi sẽ đi vào lịch sử như là một trong những người làm chia cắt Giáo Hội Công Giáo”

Cám ơn TS Maike Hickson của OnePeterFive về bản dịch từ tiếng Đức.


0211-0220, Bình Luận, Chia Sẻ. permalink.

Theo: Thoisuthoicuoi.com

Với quyết định giải tỏa, nhà thờ Sainte-Rita ở quận 15 thành phố Paris, nổi tiếng do việc chúc lành các sinh vật, coi như chính thức đóng cửa. Tuy nhiên, ngay ngày mới ra thông báo, cộng đoàn đã thông báo họ chiếm cứ thánh đường.
Đức TGM Dominique Philippe cử hành thánh lễ Chúa nhật cuối cùng - ảnh: Figaro

Với quyết định giải tỏa, nhà thờ Sainte-Rita ở quận 15 thành phố Paris, nổi tiếng do việc chúc lành các sinh vật, coi như chính thức đóng cửa. Tuy nhiên, ngay ngày mới ra thông báo, cộng đoàn đã thông báo họ chiếm cứ thánh đường.

Sau nhiều tháng xung đột về pháp lý và với biện pháp giải tỏa từ tháng chín năm ngoái, nhà thờ Sainte-Rita, giáo xứ biểu tượng của quận 15 thành phố Paris - nổi tiếng trên toàn thế giới không những về lòng sùng mộ đối với nữ thánh bảo trợ các vụ kiện vô vọng, mà còn bởi việc chúc lành hằng năm cho các sinh vật - đã chấm dứt các sinh hoạt phụng vụ (theo nghi thức Công giáo Gallican).

Dù đã có 300 cuộc rửa tội hằng năm, 200 cuộc kết hôn, 70 lần an táng và 250 giáo dân sốt sắng dâng lễ ngày Chúa nhật, ngôi thánh đường thuộc khu phố trung tâm Paris đã chuẩn bị phá hủy bởi những doanh nhân bất động sản. Họ muốn biến nơi này thành những căn hộ xã hội và các bãi đậu xe. “Thật là tai tiếng và ô nhục!”, chị Paulette, một cư dân khu phố và vô tín ngưỡng, giận dữ. 

Chúa nhật hôm ấy, người thuê cơ sở nhà thờ là Đức cha Dominique Philippe, Tổng Giám mục Công giáo Gallican giáo phận Paris, đã dâng thánh lễ cuối cùng. Ngài đã bỏ cuộc. Tuy nhiên, cộng đoàn giáo dân thì không. Họ chiếm cứ nhà thờ cả ngày lẫn đêm, kể từ Chúa nhật, và muốn cùng với tổ chức Les Arches de Sainte-Rita, một hiệp hội bảo vệ nhà thờ, đấu tranh. Một niềm hy vọng có lẽ không phù phiếm, mơ hồ, bởi vì đối với nữ thánh Rita là người bênh vực cho các vụ kiện vô vọng, không có gì là không thể. Và nhất là vì một sự nâng đỡ mới mẻ và không ngờ đã diễn ra : Cách đó vài hôm, trong khi tập hồ sơ kiện tụng chưa bao giờ lôi cuốn sự quan tâm và đồng cảm của các dân biểu và giới chính trị gia, thì dân biểu Frédéric Lefebvre thuộc khu hành chánh đầu tiên người Pháp hải ngoại (Bắc Mỹ) lại bất ngờ gia nhập nhóm bảo vệ nhà thờ khỏi bị phá hủy.

Ông đến hiện trường, cùng đi với thị trưởng Philippe Goujon, và công khai hóa lập trường của mình qua một thông cáo chung với văn phòng thị trưởng quận 15.

Ra đi với khoản bồi hoàn 150.000 euros

Cùng nhau, họ nghiên cứu nhiều giải pháp để chấm dứt cuộc xung đột pháp lý. Điều này đã khiến hiệp hội phụng tự Công giáo Gallican của Đức cha Philippe đối lập với hội phụng tự Công giáo toàn cầu đặt tại Bỉ, và với tổ chức doanh nhân bất động sản. Vấn đề chính là phải gặp gỡ hội các Kitô hữu Đông phương nhằm phần nào mua lại ngôi nhà thờ. Tổ chức Les Arches de Sainte-Rita cũng cố gắng “đề xuất một giải pháp khác thay thế để liên kết việc bảo vệ di sản với xây dựng nhà ở”, ông Nicolas Stoquer, chủ tịch đại diện hội khẳng định. Thật vậy, vào lúc ấy, việc hứa bán nhà thờ với giá 3,3 triệu euros, được ký kết giữa chủ sở hữu và doanh nhân bất động sản không thể thành tựu, do sự rối ren về pháp lý và việc khó khăn di tản cộng đoàn khỏi các địa điểm.

Cuộc xung đột này không phải mới hôm nào, nhưng đã có trước cả các thủ tục pháp lý đặt ra cách đây ba năm (2013). Chủ sở hữu người Bỉ của nhà thờ Sainte-Rita “đã kiếm cách làm cho Đức cha Philippe và con chiên của ngài thay đổi ý kiến” từ 1996, một người có liên quan gần với hồ sơ tâm sự. Từ thời điểm ấy, tiền thuê nhà thờ rất rẻ : “150 francs lúc đó”, nhưng chưa bao giờ được trả. Vài tháng sau, tòa buộc người thuê chịu trả phạt 3.000 euros mỗi tháng cho mỗi lần chưa trả. Quá nhiều nỗi cay đắng khiến Đức cha Philippe rốt cuộc phải chịu chấp nhận bản điều đình giao dịch do sở hữu chủ và doanh nhân bất động sản đề xuất : ra đi với khoản bồi hoàn 150.000 euros, như để trợ cấp việc dọn nhà; cộng với việc xóa bỏ tổng số tiền chưa trả, lên tới khoảng 45.000 euros và cam kết không còn thưa kiện nữa. Nhưng hiệp hội bảo vệ nhà thờ không chấp nhận từ bỏ hay che giấu cuộc kiện. Họ nghĩ cách không ký vào bản thỏa thuận vì lập luận làm như vậy là gián tiếp đồng ý cho người ta phá hủy nhà thờ.

Bill Gates quan tâm đến tập hồ sơ kiện tụng

Ngoài việc mua lại hay một giải pháp thay thế khác, nhóm bảo vệ nhà thờ Sainte-Rita lại tái sử dụng thủ thuật bảo vệ khi liên hệ với bộ Văn hóa để được cấp giấy xác nhận “Di sản thế kỷ 20”, với sự hỗ trợ của thị trưởng quận 15. Hơn nữa, quỹ từ thiện của tỷ phú Bill Gates, một nhân vật tốt bụng và uy tín, đã hướng về giáo xứ nhỏ bé này. Xúc động bởi tập phóng sự của hãng tin Reuters về thánh lễ chúc lành cho các sinh vật tháng mười một năm kia, quỹ này đã liên hệ với hiệp hội bảo vệ thánh đường để cùng nghiên cứu lại hồ sơ.

Theo: http://baoconggiao.com/vi/news/Tin-Tuc-Giao-Hoi-The-Gioi/Thanh-le-Chua-nhat-cuoi-cung-tai-nha-tho-Sainte-Rita-9683/

-------------------------

Thánh nữ Rita được gọi là thánh nữ luôn cứu giúp những trường hợp tuyệt vọng, Ngài yêu mến Chúa từ bé và muốn dâng mình cho Chúa và sống như thiên thần, nhưng vì vâng lời cha mẹ nên đi lấy chồng. Giống như thánh nữ Monica, Ngài lấy phải một ông chồng vũ phu làm khổ nàng, không có đạo, và gây hận thù nhiều nơi, Ngài sinh được hai đứa con. Khi Thánh nữ cảm hóa được chồng thì ông ấy bị kẻ thù giết chết bằng nhiều nhát dao. Hai đứa con nuôi ý định trả thù và thánh nữ đã can đảm cầu xin Chúa hoặc hoán cải chúng hoặc cất chúng đi để chúng khỏi phạm tội trọng như vậy. Trong một năm Chúa đã nhận lời cất hai đứa con của Ngài đi đê chúng khỏi phạm tội trọng. Sau đó Ngài đã được đưa vào dòng Augustino nhờ các vị thánh quan thầy của Ngài là thánh Gioan Tẩy Gỉa và thánh Augustino và sống một đời can đảm, đầy nhân đức trong dòng với chiếc gai mà Đấng bạn của các thánh nữ đã tặng cho thánh nữ trên đầu suốt nhiều năm đau đớn. Vì vậy, xin thánh nữ Rita cầu bầu cho các nhà thờ công giáo đang bị phá hủy, để người ta có chỗ thờ phượng Chúa.

Giám Mục Hoa Kỳ: Luật Đổi Giới Tính trong các trường học của Obama tạo ra một "Đầu óc bệnh hoạn"

Phản ứng lại “Hướng dẫn quan trọng” của chính quyền Obama gửi cho các trường công lập quy định về giới tính của học sinh căn cứ vào danh xưng giới tính của mình hơn là theo giới tính tự nhiên lúc mới sinh, Đức Giám Mục Công Giáo của Giáo Phận Nebraska, James Conley nói rằng quy định đó làm “xáo trộn sâu sắc.”

Ngài trích lại câu nói của nghị sĩ La Mã Boethius vào thế kỷ thứ 6 là theo đuổi niềm đam mê hơn là lẽ phải –như tự nhận giới tính trên thực tế khoa học – làm cho “người ta bị bệnh hoạn hơn là chữa trị cho họ.”

“Thật là sai trái khi từ chối sự khác biệt căn bản giữa nam và nữ và dạy trẻ em rằng danh xưng giới tính của mình, vấn đè cốt lõi của nó là ta có thể can thiệp và tùy ý mình chọn’” Trong bản tin Giám Mục của mình vào ngày 17 tháng Năm, Đức Giám Mục Conley viết “Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam và nữ, và những quy định như thế này là từ chối nét đẹp cơ bản của việc Thiên Chúa tạo dựng.”

Bộ Giáo Dục và Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ gửi“Bản hướng dẫn” này cho tất cả các trường công lập trên toàn quốc vào tháng Năm Bản hướng dẫn này nói là để nhận được trợ giúp tài chánh của Liên Bang, tất cả các học khu phải đối xử với học sinh căn cứ theo giới tính danh xưng cũng như giới tính tự nhiên khi cho phép xử dụng những cơ sở nhà trường và những sinh hoạt dành cho giới tính đặc biệt.

Cũng thế, các giáo viên phải dùng tên và giới tính mà học sinh chọn. Thí dụ như một học sinh lúc sinh ra là nam nhưng lại chọn “giới tính danh xưng” là nữ thì học sinh đó phải được phép dùng nhà vệ sinh nữ, tủ khóa cá nhân nữ và khi tham gia thể thao cũng là thành viên của đội nữ và phải được gọi là cô/cái.

Đức Giám Mục lưu ý rằng “những học sinh và phụ huynh trong những rất hoàn cảnh khó khăn này cần được thương cảm, tế nhị và tôn trọng,”


“Giáo Hội sẽ tiếp tục cố gắng giúp những học sinh đau khổ vì giới tính dysphoria này (từ chuyên môn y khoa dùng cho việc đổi giới tính). Thực ra, chúng ta có thể tăng cường nỗ lực về vấn đề này bằng nhiều cách.”

“Nhưng Giáo Hội sẽ không từ chối việc Chúa tạo dựng chúng ta có nam và nữ. Chúng ta sẽ không lẫn lộn sự tôn trọng và lòng thương xót để buông xuôi một ảo tưởng đáng buồn.

“Các trường Công Giáo của chúng ta sẽ tiếp tục dạy và sống trong sự thật vì sự chăm sóc yêu thương chúng ta dành cho mỗi học sinh. Chúng ta sẽ tiếp tục làm như thế cho dù có phải trả giá.”

Đức Giám Mục đã trích dẫn lời của Boethius, một nghị sĩ La Mã vào thế kỷ thứ 6 và cũng là nhà triết học Kitô giáo, tác giả cuốn The Consolation of Philosophy ( Sự An ủi của Triết học) rằng ông“ chỉ trích những linh hồn ma quỷ, kẻ giết những vụ mùa bội thu bằng lý lẽ của những chiếc gai nhọn do lòng ham muốn. Họ quen dần với việc làm cho đầu óc con người bệnh hoạn thay vì chữa trị chúng.”

“Chúng ta đang sống trong thời đại mà lý lẽ của người bình thường được nhanh chóng thay thế bằng “những gai nhọn của lòng ham muốn.” Chúng ta có cái cảm giác mơ hồ rằng ủng hộ những loại thời trang xã hội và những rối loạn cảm xúc – bao gồm cả chuyển đổi giới tính – là đòi hỏi của công lý, hay một sự chiến thắng của các quyền công dân.

Nhầm lẫn bệnh lý về danh xưng của mình là một loại bệnh. Nó gây nên khó khăn rất lớn về cá nhân và về cảm xúc. Sự chuyển đổi giới tính cần có sự thương cảm.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rằng “ bằng lòng với thân thể của mình như quà tặng của Thiên Chúa là điều hệ trọng, và “ biết mình là nữ hay là nam cũng cần thiết cho sự tự do của một con người thực sự”

Nhưng như Boethius viết, chúng ta “quen với việc biến con người thành bệnh tật thay vì chữa trị cho họ,”

Đức Giá Mục Conley cũng gọi chỉ thị của chính quyền Obama là “một dấu hiệu tan vỡ nền văn hóa của chúng ta” và là “ một dấu chỉ của thảm họa lớn.”

Ngài cũng lưu ý Thống Đốc Nebraska là Pete Ricketts rằng “ chỉ thị này căn bản là một loại quan điểm cưỡng chế không cần sức mạnh của luật pháp…Nó là một hình thức bắt nạt.

“Chúng ta đang sống trong một xã hội vô thần: một xã hội nhất quyết loại bỏ kế hoạch ngàn đời của Thiên Chúa vì lòng thương xót, công lý và những sự tốt lành. Chúng ta đang sống trong một xã hội bị gài bẫy bởi ma quỷ là thuyết tương đối, trong đó con người phát triển đời này và đời sau luôn là một sự đe dọa.

Đức Giám Mục Conley cũng nhắn gởi những người Công Giáo Hoa Kỳ rằng “Có sự cám dỗ dáo diết đối với tất cả chúng ta để thu mình vào trong gia đình, vào cộng đoàn Công Giáo, vào những nơi chúng ta nghĩ là an toàn, những nơi mà chúng ta nghĩ là chúng ta có thể thoát khỏi sự dữ của thế giới này.

“Nhưng đối diện với một thế giới gian ác, Boethius viết rằng “Đó chính là thời gian để chữa lành, không phải để than khóc’…Nền văn hóa của chúng ta cần được chữa lành. Những nạn nhân của tên độc tài thuyết tương đối – những người bị thiệt hại bởi lòng thương xót giả hình và lòng khoan dung với điều ác – cần chúng ta giúp đỡ. Chỉ có chúng ta mới có thể là những người hướng dẫn, đứng mũi chịu xào giữa cơn sóng dữ này,”

“Chúng ta đang sống trong gia đoạn thử thách cam go và thảm họa khốc liệt, nhưng bây giờ là thời gian chữa lành, không phải là lúc khóc than.”

Theo: http://baoconggiao.com/vi/news/Tin-Tuc-Giao-Hoi-The-Gioi/Giam-Muc-Hoa-Ky-Luat-Doi-Gioi-Tinh-trong-cac-truong-hoc-cua-Obama-tao-ra-mot-Dau-oc-benh-hoan-9612/

Hải quan tịch thu các sản phẩm liên quan đến hình tượng Kitô giáo
Lính canh biên giới đang lùng sục các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc láng giềng mang biểu tượng thánh giá đạo Kitô, các nguồn tin trong nội bộ chính quyền nói, theo RFA.

Gần đây, hải quan tịch thu các sản phẩm họ thấy rằng đó là dấu hiệu của thánh giá, nguồn tin dấu tên của RFA có liên quan đến việc buôn bán qua lại biên giới cho biết.

“Chúng tôi luôn phải chắc chắn không có bất cứ đặc điểm gì của Hàn Quốc trên nhãn của các sản phẩm chúng tôi mang vào từ Trung Quốc”, nguồn tin của RFA nói.

“Bây giờ chúng tôi phải kiểm tra lại coi có biểu tượng gì giống thánh giá không”, ông nói.

“Một vài thiết kế quần áo cho nữ có thể giống thánh giá nhiều, nó phụ thuộc vào người nhìn nhận. Những mẫu thiết kế giống thánh giá cũng xuất hiện trên kẹp tóc, dải cột tóc nữ và cà vạt nam”.

“Tất cả các sản phẩm giống như vậy sẽ bị hải quan tịch thu”, ông cho biết.

Một báo cáo của Ủy ban Quốc tế Tự do Tôn giáo Hoa Kỳ phát hành hôm 2-5, nói rằng Bắc Hàn là nước “đàn áp đạo Kitô dữ dội nhất”. Bởi nước này đóng cửa với thế giới bên ngoài nên khó có được đánh giá cụ thể, bản báo cáo ước lượng có khoảng 10.000 Kitô hữu đang đối diện lao động khổ sai hoặc tù đày.

Tổ chức Công giáo Hàn Quốc cho rằng có 3000 người Công giáo ở Bắc Hàn, trong khi Liên Hiệp Quốc ước tính chỉ 800 người.

Theo: http://baoconggiao.com/vi/news/Tin-Tuc-Giao-Hoi-The-Gioi/Bac-Han-cam-dua-cac-bieu-tuong-thanh-gia-vao-trong-nuoc-9585/

Vào ngày 11/9/2001, một nhóm không tặc đã cùng một lúc cướp bốn chiếc máy bay hiệu Boeing và 2 trong số đó được lái đâm thẳng tòa Tháp Đôi của Mỹ. Vụ việc khiến cả nước Mỹ bàng hoàng. Nhiều người chua xót hỏi rằng: “Vào ngày hôm ấy, Chúa đã ở đâu?“
Sự kiện 11/9 là một loạt tấn công khủng bố cảm tử có phối hợp tại Hoa Kỳ diễn ra vào thứ Ba, ngày 11/9/2001, khi một nhóm không tặc gần như cùng lúc cướp bốn máy bay hành khách hiệu Boeing đang trên đường bay nội địa. Nhóm không tặc lái hai phi cơ lao thẳng vào tòa Tháp Đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới tại Manhattan và thành phố New York, mỗi chiếc đâm vào một trong hai tòa tháp cao nhất, cách nhau khoảng 18 phút.

Trong vòng hai tiếng đồng hồ, cả hai tòa tháp sụp đổ hoàn toàn. Một nhóm không tặc khác lái chiếc phi cơ thứ ba đâm vào tổng hành dinh của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tại Lầu Năm Góc ở Quận Arlington, Virginia.

Chiếc máy bay thứ tư rơi xuống một cánh đồng gần Shanksvillem quận Somerset, Pennsylvania, cách Pittsburgh 129 km (80 dặm) về phía Đông, sau khi hành khách trên máy bay chống cự lại nhóm không tặc này.

Sự việc đã lấy đi sinh mạng hơn 2.000 người, nước Mỹ rơi vào khủng hoảng tâm lý trầm trọng. Thảm họa thương tâm ấy khiến không ít người đau lòng, tuyệt vọng, và điều quan trọng hơn là nó đã lấy mất niềm tin của họ vào Chúa.
Một người bạn rất thân hỏi tôi rằng khi nước Mỹ bị khủng bố, “Vào ngày hôm ấy, Chúa đã ở đâu?”. Cô ấy cũng như những người Mỹ khác hết sức đau lòng, vì thế tôi đã cố gắng không phản ứng lại. Từ giây phút đó, tôi luôn cầu nguyện và đau buồn trong các sự kiện tưởng nhớ lại thảm họa. Mặc dù vậy, tôi nghĩ rằng mình đã có câu trả lời. Tôi biết Chúa của mình đã ở đâu vào sáng ngày 11/9/2001. Ngài đã rất bận rộn!

Trước tiên, Ngài đã cố gắng để ngăn cản bất kỳ ai lên các chuyến bay này. Bốn chuyến bay đó lẽ ra đã chở 1.000 hành khách nhưng chỉ có 246 người đi.

Ngài đã ở trên 4 chuyến bay thương mại đó để ban khả năng bình tĩnh cho các hành khách đang hoảng sợ. Không ai trong số các người thân của nạn nhân nói rằng, họ nghe thấy tiếng la hét của những người khác trong điện thoại, khi nhận được cuộc gọi từ người thân trên chuyến bay. Thậm chí Ngài còn ban sức mạnh cho các hành khách trên một trong số 4 chuyến bay đó để họ điều khiển nó bay thẳng ra một cánh đồng không người.

Ngài cũng đã bận rộn với việc gây rắc rối để thay vì 50.000 người có mặt tại tòa tháp đôi để làm việc, thì đúng vào thời điểm đó chỉ có 20.000 người. Rất nhiều người nói với các kênh truyền thông rằng họ bị kẹt xe nên không kịp đến tòa tháp đôi làm việc vào giờ đó.

Chúa đã giữ hai tòa tháp đôi cao 110 tầng không sụp đổ ngay tức thời, mà để 2/3 số nhân viên có thể thoát ra ngoài. Tôi cũng đã rất ngạc nhiên khi biết rằng ngọn của 2 tòa tháp đó không đổ sập xuống khi bị máy bay đâm vào.

Mặc dù không có gì nghi ngờ rằng đây là điều tồi tệ nhất trong đời mà tôi chứng kiến, nhưng tôi có thể thấy phép màu của Chúa ở khắp nơi. Tôi luôn nghĩ về cô bạn của mình và cầu nguyện cho cô ấy mọi lúc có thể. Tôi không thể tưởng tượng được mình sẽ vượt qua giai đoạn khó khăn này thế nào khi không có niềm tin vào Chúa, cuộc đời sẽ là vô vọng.

Tôi nghĩ là bạn muốn biết. Cảm ơn đã cho tôi cơ hội được chia sẻ với bạn! Và xin hãy chia sẻ điều này với càng nhiều người bạn nghĩ họ nên biết càng tốt.

Kristen Mark

Walsingham, Vương quốc Anh, 06 tháng sáu 2016 (LifeSiteNews) – ĐHY Raymond Burke đã đưa ra luận điểm rằng sự suy giảm nhanh chóng của nền văn hóa Kitô giáo phương Tây sẽ không bắt đầu bị đảo ngược cho đến khi người Công giáo mạnh dạn sống cởi mở và sau đó công bố cho phần còn lại của xã hội ” Sự thật về tình dục của con người và cuộc sống của con người. ”
Trong một chuyến công du đền Đức Mẹ Walsingham tại Anh vào ngày 29 tháng 5, ĐHY nói, “cơ bản để chuyển đổi nền văn hóa phương Tây là việc công bố sự thật về sự kết hợp vợ chồng, trong sự trọn vẹn, và sự điều chỉnh lối suy nghĩ về biện pháp tránh thai vốn gây sợ hãi trong cuộc sống, khiến người ta sợ sinh sản “.
Phát biểu tại một hội nghị được tổ chức bởi Hiệp hội quốc gia các gia đình Công giáo, ĐHY Burke giải thích rằng các Kitô hữu đang sống trong một “thế giới hoàn toàn bị thế tục hóa” được gọi là “truyền giáo mới”, điều mà ngài giải thích nó có nghĩa là “giảng dạy đức tin, cử hành đức tin trong các Bí Tích và qua lời cầu nguyện và lòng sùng kính, và sống đức tin qua việc thực hành các nhân đức, như thể lần đầu tiên, có nghĩa là, với sự tham gia và nghị lực của các môn đệ đầu tiên, các tông đồ tiên khởi đến những nơi bẩm sinh của chúng ta”.
Nhưng trừ khi các Kitô hữu thực hành các “đức tính khiết tịnh, trong sạch và khiêm tốn, đó là, cuộc sống của sự thật liên quan đến tình dục của con người và cuộc sống của con người”, họ sẽ không phát triển trong “sự thánh thiện của cuộc sống” chính hãng. Ngài tiếp tục:
Việc tôn trọng sự sống của con người có liên quan chủ yếu đến sự tôn trọng đối với tính toàn vẹn của hôn nhân và gia đình khi họ đến với chúng ta từ Thiên Chúa. Ví dụ cuộc tấn công vào cuộc sống của trẻ chưa sinh vô tội và không được che chở có nguồn gốc của nó trong một cái nhìn sai lệch về tình dục của con người, vốn đang cố gắng để loại bỏ bằng các phương tiện cơ học hoặc hóa học, tính chất cơ bản sinh sản của hành vi vợ chồng. Sai lầm cho rằng hành động thay đổi nhân tạo vẫn giữ được tính toàn vẹn của nó. Khiếu nại cho rằng hành động vẫn hiệp nhất hoặc yêu thương, dù bản chất truyền sinh của hành vi bị vi phạm triệt để. Trong thực tế, đó không phải là hiệp nhất, cho một hoặc cả hai đối tác giữ lại một phần thiết yếu của ân sủng bản thân, đó là bản chất của sự kết hợp vợ chồng. Cái gọi là “tâm lý tránh thai” về cơ bản là chống lại sự sống. Nhiều hình thức của những gì được gọi là biện pháp tránh thai, trên thực tế, gây sẩy thai, đó là, khi họ phá hủy cuộc sống vốn đã thực sự được hình thành, đã thực sự bắt đầu.
Thao tác của hành vi vợ chồng, như Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI can đảm quan sát, đã dẫn đến nhiều hình thức bạo lực hôn nhân và đời sống gia đình. Thông qua sự lây lan của tâm lý tránh thai, đặc biệt là trong giới trẻ, tình dục con người không còn được coi như là ơn của Thiên Chúa, vốn kéo một người nam và một người nữ lại với nhau, trong một cam kết yêu nhau suốt đời và trung thành, được tỏa sáng bởi ân sủng cuộc sống con người mới, nhưng đúng hơn, như một công cụ để thỏa mãn cá nhân. Khi sự kết hợp tính dục không còn được nhìn nhận, bởi bản chất, sinh sản, tình dục con người của nó bị lạm dụng trong những cách vốn độc hại sâu sắc và thực sự mang tính phá hủy của các cá nhân và của chính xã hội. Một người chỉ nghĩ về sự tàn phá hàng ngày đang đập phá tan tành thế giới của chúng ta bởi các ngành công nghiệp nhiều tỷ đô la có nội dung khiêu dâm.
ĐHY nói rằng “khôi phục lại mối quan hệ cho sự toàn vẹn của hành vi vợ chồng là điều cần thiết cho tương lai của văn hóa phương Tây, sự tiến bộ của một nền văn hóa của cuộc sống.”
Ngài cảnh báo người Công giáo là “hãy chú ý tới một quan niệm sai lầm về lương tâm, vốn thực sự sẽ sử dụng lương tâm để biện minh cho hành vi tội lỗi, phản bội ơn gọi để nên thánh.”
ĐHY không đưa ra lời phê bình về ĐGH Francis, nhưng nhiều người trong lập luận của ngài đã đề nghị một chỉnh sửa rõ ràng đối với những điểm nhiều chỉ trích từ Tông Huấn gần đây của ĐGH, Amoris Laetitia.
Cách xử lý theo lương tâm mà ĐGH đề xướng, đặc biệt, đã bị chỉ trích vì những dấu hiệu rõ ràng rằng nó có thể cho phép một người phạm một hành động tội lỗi một cách hợp pháp, trong khi hoàn toàn hiểu rõ rằng hành động đó là tội lỗi. ĐGH đã viết trong đoạn 303 của Tông Huấn của mình: “[lương tâm] cũng có thể nhận ra sự chân thành và trung thực những gì đối với thực tại là phản ứng hào phóng nhất mà có thể được Thiên Chúa ban cho, và hãy đến xem với một trạng thái an toàn đạo đức nhất định rằng đó là những gì chính Thiên Chúa đang yêu cầu trong bối cảnh phức tạp cụ thể về giới hạn của một con người, trong khi chưa hoàn toàn là mục tiêu lý tưởng.”
Nhưng ĐHY Burke cho rằng người Công giáo, vốn tìm kiếm “sự thánh thiện của cuộc sống, để sống hoàn toàn và trung thành hơn với Chúa Kitô, cụ thể là, để dâng cuộc sống của chúng ta cho Chúa Kitô, mà không giữ lại gì,” phải “rèn luyện” và “hình thành” lương tâm của họ để “chỉ lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa mà thôi và từ chối những gì sẽ làm suy yếu hoặc thỏa hiệp, trong bất kỳ cách nào, chúng ta làm chứng cho sự thật trong đó chỉ một mình Người dạy chúng ta trong Giáo Hội. ”
“Lương tâm, tiếng nói của Thiên Chúa, nói chuyện với linh hồn chúng ta, là, trong những lời của Thánh John Henry ĐHY Newman,” vị Đại Diện dân riêng của Chúa Kitô”. Như vậy, lương tâm bao giờ cũng phải hòa hợp với Chúa Kitô Đấng đang hướng dẫn và thông báo nó qua vị Đại Diện của Người là ĐGH, và các Giám mục hiệp thông với ĐGH, ” ngài nói.
Ông đã trích dẫn ĐGH Benedict XVI, người đã gọi lương tâm là “năng lực của con người để nhận ra sự thật,” nói rằng nó “áp đặt trên con người nghĩa vụ được đặt ra dọc theo con đường hướng tới sự thật, để tìm kiếm nó và quy phục nó bất cứ nơi nào người ta tìm thấy nó. Lương tâm là cả năng lực cho sự thật và sự vâng phục chân lý vốn tự biểu hiện cho bất cứ ai tìm kiếm nó với một trái tim rộng mở. ”
ĐHY Burke đã nhận xét: “Lương tâm, do đó, không quy định mỗi người chúng ta ngăn cách như làm trọng tài cho những gì là đúng và tốt, nhưng hiệp nhất chúng ta trong việc theo đuổi sự thật duy nhất, cuối cùng Chúa Giêsu Kitô là Đấng làm trọng tài duy nhất cho điều đúng và tốt, vì vậy mà những suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta đưa sự thật vào thực hành “.
ĐHY Burke đã tiến tới thảo luận về gia đình như một “tác nhân chính của sự chuyển đổi nền văn hóa”, tập trung vào trách nhiệm của cha mẹ như là những nhà giáo dục đầu tiên của con cái họ. Ngài cảnh báo các bậc cha mẹ hãy bảo vệ con em mình khỏi ý thức hệ vốn đã len lỏi vào trường học, ngay cả những trường Công giáo đang đi ngược lại Tin Mừng.
“Ngày nay, các bậc cha mẹ phải đặc biệt thận trọng, buồn thay, ở một số nơi, các trường học đã trở thành công cụ của một chương trình nghị sự thế tục có hại cho đời sống Kitô hữu. Người ta nghĩ, ví dụ, trong cái bắt buộc được gọi là ‘giáo dục giới tính’ trong một số trường học, vốn là một cuộc tấn công trực tiếp vào cuộc hôn nhân ngay tại nền tảng của nó và, do đó, về gia đình,” ngài nói.
ĐHY tiếp tục:
Cha mẹ tốt và công dân tốt phải chú ý tới các chương trình đào tạo mà nhà trường đang theo và đời sống trong trường, nhằm đảm bảo rằng con em của chúng ta đang được hình thành trong các đức tính nhân bản và Kitô giáo và không bị biến dạng bởi sự truyền bá trong sự nhầm lẫn và sai lạc liên quan đến những chân lý cơ bản nhất của cuộc sống con người và của gia đình, vốn sẽ dẫn đến ách nô lệ tội lỗi và, do đó, bất hạnh sâu sắc, và sự tàn phá về văn hóa. Hôm nay, ví dụ, chúng ta buồn bã nhận ra sự cần thiết phải nói về “cuộc hôn nhân truyền thống”, như thể có một loại hôn nhân nào khác. Chỉ có một loại hôn nhân như Chúa đã ban cho chúng ta tại lúc Tạo Dựng và như Chúa Kitô đã cứu chuộc nó bằng Cuộc Khổ nạn và cái chết của Người.
ĐHY đã một cách ngắn gọn chạm đến “giáo dục trong tình yêu của con người hay ‘giáo dục giới tính’ vì nó phổ biến nhưng được gọi một cách không thích hợp”, một chủ đề vốn cũng đã được viết trong Amoris Laetitia bởi ĐGH Francis.
Trong khi ĐGH khẳng định quyền của cha mẹ trong việc giáo dục trong chương thứ nhất, gọi là “giáo dục toàn diện trẻ em, một ‘nhiệm vụ nghiêm túc nhất và đồng thời với một ‘quyền căn bản’ của bậc cha mẹ”, trong chương bảy vốn, một phần, liên quan tới “nhu cầu Giáo dục Tính dục”, không một lần nào ngài nhắc tới vai trò của cha mẹ, mặc dù ngài không đề cập đến “cơ sở giáo dục”. Các gia trưởng đã bày tỏ lo ngại rằng những thiếu sót rõ ràng sẽ được sử dụng bởi các nhà hoạt động để đàn áp những phản đối của cha mẹ đối với sự đột phá của một chương trình giới tính triệt để trong các trường học.
Đối với những nhà hoạt động như thế, ĐHY Burke nêu rõ: “Các bậc cha mẹ có trách nhiệm, trên tất cả, cho việc giáo dục con cái của họ trong sự thật về giới tính của con người và mối quan hệ thiết yếu của nó cho tình yêu trong sạch.”
Đối với bậc cha mẹ, ngài nói: “Tôi khen ngợi tài liệu của Hội đồng Giáo hoàng về Gia đình, Sự thật và ý nghĩa của Tình dục con người: Hướng dẫn cho giáo dục trong gia đình, vào ngày 08 tháng 12, năm 1995. Nó vẫn còn là một tài liệu nền tảng và kịp thời nhất về vấn đề này “.
ĐHY Burke kết luận cuộc nói chuyện của mình bằng những gì giờ đây đã trở thành những nhận xét theo thói quen của mình trên thực tế tử đạo cho các Kitô hữu chọn lựa để trung thành với Chúa Kitô.
Với sự cố trong cuộc sống gia đình, cuộc tấn công đại trà trên đời sống con người vô tội và không được bảo vệ, và sự vi phạm tính toàn vẹn của sự hợp nhất hôn nhân trong xã hội của chúng ta, lời kêu gọi trở nên tử đạo của một chứng nhân trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Sau cùng suy nghĩ nghiêm túc về trạng thái nguy kịch của nền văn hóa Kitô giáo và phản ứng của chúng ta, phù hợp với lời mời gọi nên thánh trong cuộc sống và  tử đạo vì đức tin, vì lợi ích cứu rỗi của chúng ta và sự cứu rỗi của thế giới, chúng ta nhận ra rằng chính Đức Kitô đã khiến chúng ta có thể theo đuổi sự thánh thiện, là người tử đạo thật sự. Chính trong sự đi theo Người một cách trung thành và tận hiến mà chúng ta mang ánh sáng chân lý đến cho thế giới của chúng ta. Đồng thời, Người ở với chúng ta luôn luôn, như Người đã hứa, để gìn giữ chúng ta bởi ân sủng của Người, bằng việc tuôn đổ Thánh Thần.
Tác giả Pete Baklinski
Theo: http://thoisuthoicuoi.com/2016/06/13/dhy-burke-cho-biet-chung-ta-phai-cong-bo-su-that-ve-su-ket-hop-vo-chong-de-doi-moi-van-hoa-kito-giao/

WHĐ (11.06.2016) – Với quyết định nâng bậc lễ Thánh Maria Mađalêna (ngày 22 tháng Bảy) thành “lễ kính”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhìn nhận tầm quan trọng của Thánh nữ như là “Tông đồ của các Tông đồ”.
Trong lịch phụng vụ Giáo hội hiện nay, các Thánh được mừng theo ba bậc lễ: lễ nhớ (buộc hay tự do), lễ kính, hay lễ trọng. Từ nay lễ Thánh Maria Mađalêna sẽ có cùng bậc lễ với Lễ của các Thánh Tông đồ.

Qua một bức thư thông báo việc thay đổi này -quy định trong Sắc lệnh ký ngày 03 tháng Sáu 2016, nhằm ngày Lễ trọngThánh Tâm Chúa Giêsu-, Đức Tổng giám mục Arthur Roche, Thư ký Bộ Phụng tự thánh và Kỷ luật các Bí tích, viết:quyết định trên đây muốn nói rằng chúng ta “phải suy tư sâu xa hơn về phẩm giá của phụ nữ, về Tân Phúc âm hoá, vàvề sự cao cả của mầu nhiệm Lòng Chúa thương xót”.

Thánh Maria Mađalêna là chứng nhân đầu tiên của việc Chúa sống lại, và là người loan báo tin mừng ấy cho các Tôngđồ.

Đức Tổng giám mục Arthur Roche viết: “Thánh Maria Mađalêna là một gương mẫu của việc Phúc âm hoá đích thực;Thánh nữ là một nhà rao giảng đã loan báo tin vui Phục sinh”.

“Quyết định của Đức Thánh Cha Phanxicô được đưa ra ngay trong bối cảnh của Năm Thánh Lòng Thương xót để nói lên tầm quan trọng của Thánh nữ - là người đã bày tỏ tình yêu lớn lao đối với Chúa Kitô và được Chúa Kitô yêu mến nhiều”.

Ngài cũng nhắc lại rằng Thánh Mađalêna đã được Thánh Tôma Aquinô gọi là “Tông đồ của các Tông đồ”(Apostolorum Apostola), vì Thánh nữ đã báo tin Chúa sống lại cho các Tông đồ, và các Tông đồ lại loan tin ấy cho toàn thế giới.

“Vì thế ngày lễ Thánh Mađalêna có cùng bậc lễ với các Thánh tông đồ trong lịch phụng vụ chung của Roma, để nhấn mạnh sứ vụ đặc biệt của Thánh nữ - một tấm gương và hình mẫu cho mỗi người phụ nữ trong Giáo hội”.

Theo: http://hdgmvietnam.org/nang-bac-le-thanh-maria-madalena-thanh-%E2%80%9Cle-kinh%E2%80%9D/7967.57.7.aspx

Roma ngày 09 tháng 05 năm 2016 (LifeSiteNews) – Hơn 100 nhà lãnh đạo ủng hộ sự sống và ủng hộ gia đình từ khắp nơi trên thế giới nhảy nhót vui mừng trong tràng pháo tay tại một cuộc họp ở Rome vào ngày thứ Bảy sau khi nghe một lời kêu gọi yêu cầu ĐGH Francis phải rút lại tông huấn Amoris Laetitia gây nhiều tranh cãi của ngài.

John Smeaton, đồng sáng lập của Đài Tiếng nói của các Gia đình và là Giám đốc điều hành của Hiệp hội Anh quốc Bảo Vệ Thai Nhi, đã phát ra yêu cầu dành cho ĐGH trong bài phát biểu của mình tại Diễn đàn Cuộc sống diễn ra hàng năm tại Rome.

Smeaton nói tiếp sau Đức Cha Athanasius Schneider, trong bài phát biểu của ông công khai chỉ trích sự nhầm lẫn đang phát triển trong Giáo Hội, và những người trước đây đã bày tỏ mối quan ngại nghiêm trọng về tông huấn.

Smeaton nhấn mạnh nhiều quan ngại về tông huấn, bao gồm:

– Phần nói về giáo dục giới tính, vốn nói dông dài về giáo dục giới tính trong trường học, mà không đề cập đến các quyền của cha mẹ;

– Tài liệu tham khảo đối với ngoại tình công khai mà không chỉ ra những điều ác nội tại của tội ngoại tình;

– Ý kiến cho rằng hành vi tình dục dâm đãng này có thể hợp lý; và,

– Thông điệp sai lầm rằng hôn nhân không phải là bất khả phân ly.

Việc không nói rõ ràng về tội ngoại tình “cho thấy thiếu lòng thương xót” Smeaton nói, “bởi vì nó phủ nhận Công giáo, sự thật của cái gì là đúng cái gì là sai”

“Nó phủ nhận Công giáo, là vốn kiến thức cần thiết để giúp họ hành động đúng trong tự do thật, không làm tôi tội lỗi. Nó cũng cho thấy thiếu lòng thương xót, vì nó gửi đến con cái thông điệp sai lầm rằng hôn nhân không phải là bất khả phân ly. Có thể cho rằng, thưa Giáo Hoàng, cách hiệu quả nhất phá hủy trẻ em là phá hủy hôn nhân là một liên kết muôn đời bất khả phân ly giữa một người nam và một người nữ “.

Trong bức thư ngỏ của mình, Smeaton nói với giáo hoàng rằng cá nhân ông biết “về phụ nữ và đàn ông đã bị bỏ rơi bởi người phối ngẫu của họ vì một người khác và hoặc là sống một mình với con cái hoặc là sống một mình không có con cái của họ.”

“Nếu người phối ngẫu bị bỏ rơi ấy sau đó thấy vợ hoặc chồng mình với một người mới, nhận lãnh Mình Thánh Chúa qua việc Rước Lễ, điều đó sẽ gửi thông điệp đến tất cả mọi người, kể cả con cái, rằng rốt cuộc hôn nhân không phải là bất khả phân ly” Smeaton nói.

Smeaton kết luận lời thỉnh cầu của mình với ĐGH bằng cách yêu cầu ngài “nhận ra các lỗi nghiêm trọng trong Tông Huấn, Amoris Laetitia được công bố thời gian gần đây, đặc biệt là những phần mà sẽ dẫn đến sự phạm thánh của Bí Tích Thánh Thể và sự gây hại đối với con em chúng ta, và rút lại Tông Huấn với hiệu lực ngay lập tức.”

Địa chỉ đầy đủ của Smeaton được công bố trên LifeSiteNews.

Smeaton khuyến khích người Công giáo và người thiện chí hãy viết thư cho ĐGH và Bộ Giáo lý Đức tin với tình yêu và sự rõ ràng để thu hồi tông huấn. Ông đã hỏi những người viết thư, gửi một bản sao của bức thư đến Tiếng nói của Gia đình.


Địa chỉ:

Gửi cho ĐGH Francis:

To His Holiness Pope Francis

I-00120 Vatican City


Gửi cho ĐHY Gerhard Müller:

Đức Hồng Y Gerhard Müller

Bộ Giáo lý Đức tin

Piazza del S. Uffizio, 11, 00.193 Roma, Ý

cdf@cfaith.va



Gửi Tiếng nói của gia đình

nit D, 3 Whitacre Mews,

Stannary Street,

London, SE11 4AB,

United Kingdom

enquiry@voiceofthefamily.com

Thư của John Smeaton, đồng sáng lập của Đài Tiếng nói của các gia đình, gửi Giáo hoàng Francis

Thưa cha,

Với sự tôn kính và với mối quan tâm đến mưu ích chung và phẩm giá con người, và là một người chồng và người cha, con xem xét rằng phần của Amoris Laetitia mang tên “Nhu cầu Giáo dục tình dục” (The Need for Sex Education) nghiêm trọng tàn phá các bậc cha mẹ vào một thời điểm khi các quyền của cha mẹ về giáo dục tình dục bị tấn công nghiêm trọng và không ngừng trong nhiều quốc gia trên thế giới, và tại các tổ chức quốc tế. Phần này kéo dài hơn năm trang mà không tạo ra ngay cả một tài liệu tham khảo nào cho phụ huynh, mặc dù quyền của cha mẹ được đề cập trước đó trong bối cảnh khác. Mặt khác có liên quan đến “cơ sở giáo dục”. Tuy nhiên, giáo dục tình dục là “một quyền cơ bản và là bổn phận của cha mẹ” mà “luôn luôn phải được thực hiện dưới sự hướng dẫn chu đáo của họ, dù ở nhà hay tại các trung tâm giáo dục được lựa chọn và kiểm soát bởi họ” như người tiền nhiệm của cha, ĐGH Gioan Phaolô II, đã dạy các tín hữu trong Familiaris Consortio, Số, 37.

Thưa cha, Hội nghị Giám mục Công giáo khắp thế giới, kể cả ở Anh, đang hợp tác với các đối thủ chống lại sự sống của chúng con trong việc kiểm soát sinh sản và giáo dục tình dục đang vận động hành lang, trong việc giúp đỡ để áp đặt làm hư hỏng các chương trình giáo dục tình dục vào học sinh tiểu học và trung học. Những chương trình như vậy, kể cả trong các trường học Công giáo, liên quan đến việc cung cấp cho trẻ em của chúng con quyền tiến hành phá thai và ngừa thai. Như vậy, thưa ĐGH, quyền của Đức Kitô ban cho các Giám mục, mà chúng con trung thành gìn giữ trong sự tôn kính như vậy, đang bị biến thành công cụ gây tai tiếng và gây tai hại khủng khiếp cho con em của chúng con. Amoris Laetitia sẽ phục vụ để khiến cho tình hình khủng khiếp này thậm chí còn tồi tệ hơn.

Thưa ĐGH, con tin rằng, cũng như tất cả những người Công giáo tin rằng, ĐGH là Phêrô, đá tảng mà Đức Kitô đã chọn để trên đó xây dựng Giáo Hội của Người. ĐGH là người phục vụ sự thật không thể thay đổi của giáo huấn của Chúa Kitô. Tuy nhiên, Thưa Ngài, ĐGH không phải là chủ nhưng là tôi tớ của sự thật.

Thưa cha, một lần nữa với sự tôn kính và với sự quan tâm đến mưu ích chung và phẩm giá con người, cũng như với quyền là một người chồng và là người cha, con xin lưu ý rằng có những tài liệu tham khảo về chuyện ngoại tình công khai trong Tông Huấn Amoris Laetitia vốn không chỉ ra điều ác nội tại của tội ngoại tình. Con cho rằng tài liệu tham khảo như vậy sẽ dẫn đến tai tiếng những con cái bé nhỏ trong cách được chứa trong cảnh báo của Chúa Giêsu Kitô trong câu 92, chương 9 của Tin Mừng của Thánh Macco.

Thậm chí tệ hơn, thưa ĐGH, Tông Huấn Amoris Laetitia, ít nhất, làm tăng khả năng mà hành vi tình dục ngoại tình có thể trở nên điều hợp lý. Điều này cho thấy sự thiếu lòng thương xót, vì nó phủ nhận người Công giáo sự thật về điều đúng và sai. Nó không công nhận người Công giáo về kiến ​​thức cần thiết để thực hiện tự do đích thực, tự do khỏi tội lỗi. Nó cũng cho thấy sự thiếu lòng thương xót, vì nó sẽ gửi đến con cái thông điệp sai lầm rằng hôn nhân không phải là bất khả phân ly. Có thể cho rằng, thưa Giáo Hoàng, cách hiệu quả nhất hủy hoại trẻ em là tiêu diệt hôn nhân là tiêu diệt một mối kết hợp muôn đời bất khả phân ly của một người nam và một người nữ.

Thưa ĐGH, Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo dạy rằng hành động ấy có “bản chất xấu xa” như tội ngoại tình.

Con tin rằng, thưa cha, như tất cả những người Công giáo tin rằng, vì Chúa Giêsu Kitô Ngài dạy rằng hôn nhân là bất khả phân ly, và Chúa Giêsu đã dạy, nếu một người nào đó ly dị hoặc ruồng rẫy vợ hoặc chồng và lấy người khác, thì người đó phạm tội ngoại tình – được coi là một tội trọng, loại tội trọng mà người ta tự cắt mình ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. (Matthew, 19)

Con tin rằng, như tất cả những người Công giáo tin rằng, vì Chúa Giêsu Chúa Kitô đã dạy, trong việc đi rước lễ, chúng con nhận được Thánh thể của Chúa Giêsu Kitô, chính Thiên Chúa: chúng con nhận được cuộc sống và lời hứa về sự sống đời đời. (John, 06:54)

Cuối cùng, thưa ĐGH, con tin rằng, như tất cả những người Công giáo tin rằng giáo huấn của Thánh Phaolô dạy rằng nếu một người ăn và uống Mình và Máu của Chúa Giêsu Kitô cách bất xứng, chúng ta không nhận được cuộc sống hay ân huệ, mà chúng ta ăn và uống án phạt cho chính mình ” vì không phân biệt Thánh thể của Chúa “. (Corinthians: 1,11.29)

Thưa ĐGH, con biết rất nhiều người Công giáo bình thường cả trong cuộc sống gia đình và thông qua công việc của con. Con biết phụ nữ và những người đàn ông đã bị ruồng bỏ bởi người phối ngẫu của họ vì người khác và hoặc là phải ở một mình với con cái hoặc ở một mình mà không có con cái của họ. Nếu người phối ngẫu bị ruồng bỏ ấy sau đó lại thấy vợ hoặc chồng mình với một đối tác mới, nhận được Thân Thể Chúa Kitô trong sự Rước Lễ, điều đó sẽ gửi thông điệp đến tất cả mọi người, kể cả con cái, rằng hôn nhân rốt cuộc không phải là bất khả phân ly. Điều này là phá hoại sự thật về hôn nhân. Nó cũng gây tổn hại về mặt tâm lý và tinh thần, nhất là đối với trẻ em.

Thưa ĐGH, với lòng tôn kính và với sự quan tâm đến mưu ích chung và phẩm giá con người, con kêu gọi cha hãy nhận ra những lỗi nghiêm trọng trong Tông Huấn Amoris Laetitia được công bố thời gian gần đây, đặc biệt là những phần mà sẽ dẫn đến sự phạm thánh của Bí Tích Thánh Thể và đến việc gây tổn hại đến con em của chúng con, và hãy thu hồi Tông Huấn với hiệu lực ngay lập tức.

Trân trọng trong Chúa Kitô.

Theo: http://thoisuthoicuoi.com/2016/05/24/tieng-noi-cua-cac-gia-dinh-keu-goi-dgh-phanxico-rut-lai-tong-huan-amoris-laetitia/

Paris, Pháp – Trong những tuần lễ này, các tín hữu Công Giáo ở Bỉ và Pháp đã phải chịu đựng những bạo lực và tấn kích như đốt các nhà thờ, tấn công Linh mục, phạm thánh nhà Tạm, nơi đặt Thánh Thể, và hơn 100 trang mạng internet bị tấn công.
Paris, Pháp – Trong những tuần lễ này, các tín hữu Công Giáo ở Bỉ và Pháp đã phải chịu đựng những bạo lực và tấn kích như đốt các nhà thờ, tấn công Linh mục, phạm thánh nhà Tạm, nơi đặt Thánh Thể, và hơn 100 trang mạng internet bị tấn công.

Trong tập san định kỳ “La Provence”, cha Benoît Delabre kể rằng cách đây 2 tuần, bàn thờ của nhà thờ thánh Madeleine-de-l'Île ở Martigue, khoảng 800 cây số về phía nam của Paris, bị đốt cháy. Cũng may là bàn thờ bằng đá cẩm thạch nên ngọn lửa không cháy lan và nhà thờ không bị thiêu hủy. Cha cũng cho biết hôm 15/5, một người lạ đã xúc phạm nhà Tạm trong nhà thờ ở Jonquières, cũng trong vùng Martigue. Còn hôm Chúa nhật vừa qua, chính cha Delabre đã bị một người đàn ông tấn công khi cha bắt giữ ông ta ở cửa nhà thờ vì ông ta dường như đang cố lấy trộm đồ vật.

Gaby Charroux, thị trưởng của Martigues nói là trộm cắp tại các nhà thờ ở Pháp rất thường xuyên và hứa là cảnh sát sẽ ngăn chặn các cuộc tấn công.

Báo La Croix thuật lại là trong tháng 4, hơn 100 trang mạng internet của các nhà thờ và nhà dòng bị tấn công bởi các tin tặc chiến binh thánh chiến người Tunisi; họ tự gọi mình là nhóm Fallaga.

Ở Bỉ, chiều ngày 24/5, 2 vụ hỏa hoạn làm thiệt hại đáng kể nhà thờ có từ thế kỷ 16 ở Mont-Sainte-Geneviève. Vụ đầu tiên bắt đầu từ phòng thánh trong khi vụ thứ 2 bắt đầu từ mái nhà thờ. Các cảnh sát ở Hainut, 37 dặm về phía đôn gnam thủ đô Brussel đang truy tìm thủ phạm.

Theo: http://baoconggiao.com/vi/news/Tin-Tuc-Giao-Hoi-The-Gioi/Lan-song-moi-chong-Cong-giao-o-Phap-va-Bi-9099/#.V1NvaXPups0.facebook

Các nhà địa chất của Mỹ và Đức tuyên bố, họ đã phát hiện ra ngày Đức Chúa Jesus bị đóng đinh lên cây thập tự sau khi nghiên cứu các hoạt động địa chấn tại Biển Chết.

Nhà địa chất học Jefferson Williams của hãng Supersonic Geophysical (Mỹ) cùng với các đồng nghiệp người Đức là Markus Schwab và Achim Brauer đã tìm hiểu 3 lõi đáy nằm ngoài bờ biển Ein Gedi Spa kế bên Biển Chết. Các mẫu đất thu được cho thấy, có ít nhất 2 trận động đất lớn gây ảnh hưởng đến phần lõi: một trận động đất vào năm 31 trước Công nguyên (TCN) và 1 trận nằm trong khoảng năm 26 đến 36 sau Công nguyên (SCN). Và điều trùng hợp là giai đoạn thứ 2 xảy ra đúng vào khoảng thời gian mà Pontius Pilate làm tổng đốc của thành Judea và đem Chúa Jesus đi hành hình.
Trong cuốn Phúc âm Matthew, chương 27 có viết rằng: khi Chúa Jesus bị đóng lên cây thập tự, “mặt đất rung chuyển, đá nứt vỡ”. Như vậy ngày diễn ra cuộc hành hình, tức Ngày Thứ sáu tuần thánh là khá chính xác, nhưng năm của sự kiện trên vẫn còn là nghi vấn, Williams nói.
Khi đặt cùng với một số giả thiết từ cuốn Phúc âm Matthew, kết hợp với lịch Do Thái và dữ liệu về thiên văn học, các nhà khoa học đã tìm thấy ngày chính xác mà Chúa Jesus đã bị hành hình trên cây thập tự. Theo đó, Chúa Jesus đã bị đóng đinh vào ngày thứ sáu ngày 3 tháng 3 năm 33 SCN, nhóm nghiên cứu cho biết.
Được biết, nguyên nhân dẫn đến cái chết của Chúa Jesus là do các trưởng lão của người Do Thái đã đố kỵ với việc quá nhiều người đi theo Jesus. Họ lo sợ rằng mình sẽ không còn được ai thờ phụng và cấp dưỡng nên đã bịa đặt tội trạng cho Chúa và đóng đinh ngài lên cây thập tự.
Tổng Hợp

Mục sư của "nhà thờ khổng lồ" giáo phái Phúc âm kể câu chuyện trở lại vang lừng của mình
Mục sư người Bắc Âu Ulf Ekman thổ lộ với đồng hương người Thụy Điển Henrik Lindell của mình.
Từ ba mươi năm nay, mục sư Ekman là người rao giảng phúc âm nổi tiếng nhất, ông sáng lập “nhà thờ khổng lồ” Livets Ord (Lời Sự sống). Trước hết là từ mạng của các cộng đồng quy tụ hơn 250 000 tín hữu ở Bắc Âu, nước Nga và vùng Caucase, ông cũng là một trong những người biểu tình chống cuộc viếng thăm của Đức Gioan-Phaolô II tháng 6 năm 1989 ở Stockholm, thủ đô Thụy Điển. Và bây giờ, ông được Đức Phanxicô ban phép lành ở Quảng trường Thánh Phêrô, ông tuyên bố: “Tôi muốn tất cả tín hữu kitô giáo trở lại đạo công giáo”!

Sững sờ, chướng tai, chất vấn…

Việc mục sư Ulf Ekman trở lại đạo công giáo đã gây kinh ngạc, tai tiếng nơi người Tin Lành, nhưng cũng tạo chất vấn nơi người công giáo, những người nghĩ rằng tinh thần đại kết là đời đời kiếp kiếp “ad vitam aeternam”, ai ở nhà đó. Ký giả báo Sự sống (La Vie) Henrik Lindell hiếu kỳ muốn biết tại sao có sự trở lại này, ông đã “tra hỏi” rất lâu dài đồng hương Ulf Ekman của mình để biết tiến trình này. Kết quả thật lôi cuốn. Sự quan tâm này không phải chỉ do bối cảnh trở lại của ông và vợ ông là bà Birgitta, nhưng còn do lập luận sáng rõ của mục sư về đại kết, về uy quyền của Đức Giáo hoàng, về đơn vị hợp nhất của Giáo hội, về vị trí của Đức Mẹ, về các Sách Thánh, các bí tích, cũng như các chủ đề chính yếu mang yếu tố quyết định đến cho chọn lựa của mục sư Ekman và ngoài ra cũng còn nhờ ơn sủng giúp đỡ.

Theo bước chân của Hồng y Newman

Tiến trình trở lại của mục sư không thể nào không liên tưởng đến tiến trình của Hồng y John Henry Newman, một nhà rao giảng Tin Lành nổi tiếng, tinh hoa của đại học Oxford, mà sự trở lại đạo công giáo năm 1845 của Hồng y đã làm cho Giáo hội Anh giáo và cả nước Anh sững sờ chấn động. Chúa nhật 9 tháng 3 năm 2014, ở Thụy Điển cũng có một cơn sốc không kém, khi từ trên bục giảng của nhà thờ do chính tay mình xây dựng ở thành phố đại học Upsal, mục sư Ulf Ekman loan báo tin mình sẽ trở lại đạo công giáo. Đài truyền thanh, truyền hình loan tin này ngay, tin chấn động vì liên quan đến một Giáo hội xưa cổ Luther, một Giáo hội để cho chủ thuyết tự do và chủ thuyết tương đối thắng thế (Ulf Ekman chống mãnh liệt các việc phá thai, phong chức cho phụ nữ, cũng như ban phép lành cho các cặp đồng tính). Cũng như người tạo cảm hứng cho mục sư một thế kỷ rưỡi trước đây, mục sư Newman, ông Ulf Ekman muốn quay về với các nền tảng đức tin và mang lại sức sống cho sứ vụ truyền giáo, nhưng không vì vậy mà ông làm lợi cho những người “thần phục giáo hoàng”. Lòng kính mến Đức Mẹ, lòng sốt sắng và sự ngay thẳng sâu đậm về mặt trí tuệ đã đem ông đến một nơi mà ông không nghĩ là mình sẽ đến: Thần Khí chờ ông ở điểm ngoặc…

“Biết bản chất tự nhiên của Giáo hội”

Chính đây là điểm ngoặc hay đúng hơn là sự quay về mà ông mô tả và giải thích cho ký giả Henrik Lindell. Ký giả Lindell theo dõi ông và vợ ông là bà Birgitta trên con đường hành hương thiêng liêng, vừa trí thức mà cũng vừa thể lý vì ông đưa họ đến Đất Thánh sống ba năm. Bà Birgitta vợ ông là người phụ nữ có trực giác, bà thường đi trước như các phụ nữ thánh đã đi trước các thánh tông đồ. Tại Đất Thánh, bước đầu họ tìm hiểu thế nào là đối thoại đại kết, bằng cách hỏ hết các thành kiến về các giáo hội bạn, nhất là Giáo hội công giáo. Những buổi cầu nguyện chung với những người công giáo có “đặc sủng”, những buổi tĩnh tâm thiêng liêng đã làm thuận lợi cho sự xích lại gần. Nhưng cũng giống như Hồng y Newman ngày xưa, người kiên nhẫn và nghiêm nhặt tìm hiểu về mặt thần học, bám rễ sâu xa trong Lịch sử và trong các bài viết của các Tổ phụ để “hiểu bản chất thật của Giáo hội”, hai vợ chồng mục sư Ekman cũng đã tìm hiểu từ nhiều năm nay. Đối với mục sư Ulf và vợ là bà Birgitta, đây không đơn giản chỉ quan tâm đến tự biện nhưng là cả một khẩn cấp trong công việc truyền giáo, đáp trả lại lời kêu gọi tối thượng của Chúa Kitô: “Để tất cả nên một, như vậy thế gian sẽ tin” (Ga 17, 21).

Sự thẳng thắn và nghiêm nhặt không nhân nhượng của mục sư Ulf Ekman, người không che niềm vui chứng tá của mình, đã làm cho cuộc phỏng vấn với ký giả Henrik Lindell đích thực là một nguồn vui thiêng liêng. Một quyển sách nên đọc lui đọc tới, nên chiêm niệm để đến lượt chúng ta, chúng ta bỏ hết các thành kiến về Giáo hội công giáo và truyền thống của nó và để chúng ta tìm lại lòng “sốt sắng đầu tiên” này mà các Giáo hội Phương Tây cần biết bao.

Theo: http://baoconggiao.com/vi/news/Tin-Tuc-Giao-Hoi-The-Gioi/Vi-lanh-dao-hoi-thanh-Tin-Lanh-cua-nha-tho-khong-lo-tro-lai-Dao-Cong-Giao-8996/

Sắp tới đây các xe buýt của các thành phố lớn ở nước Anh sẽ trương các bích chương “Vinh Danh Allah” (Subhan Allah), trong khuôn khổ chiến dịch gây quỹ từ thiện của hồi giáo. Các môi trường kitô giáo chỉ trích chiến dịch quảng cáo này được cho phép, trong khi chiến dịch cổ động Kinh Lạy Cha trong các rạp chiếu bóng gần đây lại không được chấp nhận.
Ngày 10 tháng 5 năm 2016, nhật báo công giáo Anh The Tablet cho biết, chiến dịch trương bích chương này được đưa ra trong khuôn khổ quốc tế gây quỹ giúp đỡ của Birmingham Islamic Relief, nhân dịp lễ ramadan bắt đầu vào ngày 7 tháng 6 sắp tới. Trong tháng ramadan, người hồi giáo thường có truyền thống làm việc từ thiện. Các bích chương sẽ được treo trên các xe buýt của các thành phố Luân Đôn, Birmingham, Manchester, Leicester và Bradford.

Kinh Lạy Cha thì khó chịu sao?

Các nhóm kitô giáo công kích chiến dịch này, sau khi một đoạn video cổ động cho Kinh Lạy Cha không được phép chiếu trong các rạp ở nước Anh. Đoạn video này do Giáo hội Anh giáo quay nhân dịp ra mắt phim Star Wars VII, một ít thời gian trước lễ Giáng Sinh năm 2015. Chương trình này bị ban tổ chức quảng cáo của ba hãng chiếu bóng lớn nhất từ chối. Ban tổ chức lấy lý do có thể làm “sốc hoặc làm một phần dân chúng khó chịu”.

Ông Imram Madden, chủ tịch tổ chức Islamic Relief tuyên bố, vượt ngoài việc gây quỹ, mục đích các bích chương này cũng là phản ứng chống lại bầu khí tiêu cực đang bao trùm chung quanh hồi giáo trong cả nước.

Theo: http://phanxico.vn/2016/05/13/vinh-danh-allah-tren-cac-xe-buyt-luan-don-lam-cac-tin-huu-kito-giao-kho-chiu/

Lớn lên, Holly Ordway bị thuyết phục rằng Thiên Chúa chẳng có gì hơn là sự mê tín, hoàn toàn không có bằng chứng hay lý do gì để chứng minh.

Sau đó cô lấy được bằng Tiến Sĩ Văn chương, đi du lịch khắp nước với vai trò là người đấu kiếm cừ khôi, rồi trở thành giáo sư đại học tiếng Anh, hoàn toàn không còn chỗ cho Thiên Chúa.

Nhưng một ngày nọ một người bạn thông minh và rất đáng ngưỡng mộ bất ngờ tiết lộ rằng anh là người Ki-tô hữu. Việc đó đã đưa Holly vào một chuyến đi tìm chân lý về Thiên Chúa, một nhân vật được nói rất nhiều trong văn chương, mỹ thuật, sự tưởng tượng, và lịch sử. Và đỉnh điểm là vào năm 2012 cô đã gia nhập Giáo Hội Công Giáo.

Holly kể lại chi tiết hành trình đi tìm chân lý của mình trong hồi ký, Not God's Type: An Atheist Academic Lays Down Her Arms (Nhà xuất bảnThánh Ignatius, 2014). Quyển sách lần đầu tiên xuất hiện và đã chiếm vị trí cao trên bảng xếp hạng của Amazon. Chỉ trong vài ngày, nó đã được xếp hạng:

#1 trong các tiểu sử và hồi ký tôn giáo
#15 trong tất cả các sách của Ki-tô giáo
#30 trong tất cả các hồi ký trên Amazon
#353 trong tất cả sách trên Amazon
Gần đây tôi có ngồi nói chuyện với Holly về thuyết vô thần mà cô theo đuổi trước đây, vai trò của sức tưởng tượng trong sự hoán cải trở về Giáo hội Công giáo của cô, và minh chứng mạnh mẽ nhất về Ki-tô giáo.

------------------

BRANDON VOGT: Bất cứ khi nào những người không tín ngưỡng phân tích những câu chuyện hoán cải từ vô thần sang Công giáo, rất nhiều người vội vàng nói ngay rằng người hoán cải đó thực sự không phải là người vô thần. Cô có xếp mình vào dạng người này trong đời sống trước đây không?

Tiến Sĩ HOLLY ORDWAY: Tôi thường nghe những khẳng định như vậy, và tôi thừa nhận rằng nó làm tôi rối tung lên. Thậm chí nếu trước đây tôi không ‘thực sự’ là một người vô thần đi nữa thì điều đó có liên quan gì đến việc đúng hay sai khi tôi tin Ki-tô giáo là chân lý?

Nhưng dù thế nào, tôi chắc chắn khẳng định mình là một người vô thần khi tôi ở tuổi 20. Đôi khi người ta cho rằng chắc phải có một biến cố đau thương hay một sự chối bỏ đức tin nào đó, nhưng thực sự không có. Nó là một tiến trình tiệm tiến từ tình trạng không tôn giáo, sang tình trạng bàng quan, rồi đến trạng thái hoàn toàn bị thuyết phục rằng thuyết vô thần là đúng.

Tôi nhớ lại một cuộc đối thoại của tôi khi tôi khoảng 8 tuổi gì đó. Một cậu bé cùng đứng đợi tại trạm xe buýt với tôi hỏi tôi có tin Thiên Chúa không. Tôi suy nghĩ vài giây rồi trả lời “Tớ không biết nữa. Có thể Thiên Chúa là có thật, mà cũng có thể là không.” Cậu bé liền nói “Ồ, vậy là cậu thuộc phái Bất Khả Tri.” Tôi ghi nhớ cuộc đối thoại đó không phải vì nó có vẻ quan trọng, nhưng vì tôi học được một từ mới, và đó luôn là một điều thú vị đối với tôi vì tôi là một người thèm khát đọc sách từ nhỏ.
Gia đình tôi thuộc dạng “Ki-tô hữu theo phong trào”: chỉ vào mùa Giáng Sinh, cũng có trưng ra một bộ tượng Chúa ra đời và những bài hát Giáng Sinh truyền thống vang lên từ máy hát, và mẹ tôi về một mặt nào đó lại quở trách cái thói quen tuổi mới lớn của tôi hay mở miệng là “Lạy Chúa tôi”. Nhưng trong nhà tôi chẳng có quyển Kinh Thánh hay sách tôn giáo nào hết, và chúng tôi chẳng bao giờ đi lễ. Bước vào tuổi mới lớn, tôi bắt đầu quan tâm đến những câu hỏi đúng hay sai, và cảm thấy rất muốn biết được ý nghĩa và sự nối kết, nhưng điều này lại không làm tôi thỏa mãn khi tìm hiểu những vấn đề trong các thuật ngữ tôn giáo.

Vào đại học tôi hấp thụ tư tưởng đang thịnh hành lúc đó cho rằng tôn giáo nói chung, và Ki-tô giáo nói riêng, chỉ là một sự hiếu kỳ của lịch sử thôi, và quan điểm cho rằng khoa học có thể giải thích được tất cả. Khi tôi ở độ tuổi gần 30, tôi bị thuyết phục rằng chẳng có Thiên Chúa nào cả (hay chẳng có thực tại tâm linh nào hết). Tôi không tin là tôi có linh hồn; Tôi cho rằng mình chỉ là một động vật thông minh, và tin rằng khi chết tức là ý thức của tôi bị mất đi. Và tôi nghĩ rằng chẳng có ý nghĩa cuộc sống đời sau là gì cả, và cho rằng những ai tin vào bất kỳ một dạng thần thánh nào đó thực sự tự bỏ bùa mê mình. Nghe có vẻ hơi tiêu cực một tí, nhưng tôi nghĩ đó là một lý giải tốt nhất cho mọi sự trên thế giới này, và sự thật luôn luôn tốt hơn những vỗ về giả tạo. Nếu nói đó không phải là chủ nghĩa vô thần thì tôi chịu không biết nói sao nữa ...

Có khi tôi nghe những người vô thần tranh luận rằng “Bạn chẳng cần phải tin có Thiên Chúa thì cũng vẫn trở thành người đạo đức.” Tôi đồng ý! Theo kinh nghiệm của tôi, tôi vẫn biết người vô thần có thể là những người đạo đức và làm những việc tốt. Điều mà tôi không thể làm được, nếu là người vô thần, là đưa ra được lý do thuyết phục tại sao tôi có ý thức đạo đức này, hay không thể giải thích tại sao tôi nhận thấy những nỗ lực của tôi trở thành người tốt luôn luôn không có lý tưởng.
Rồi tôi cũng không hiểu nổi những giáo huấn của Ki-tô giáo về nhân đức và luân lý có gì khác hơn là một loạt những quy tắc và những khẩu hiệu sáo rỗng - tôi cũng không hiểu rằng Giáo hội làm cho những giáo huấn này là một cầu nối với một Đấng đang sống, mà Đấng này, nếu bạn cho phép, sẽ thực sự làm một điều gì đó để thay đổi và biến đổi bạn thành một con người mới, một con người sống trọn vẹn ý nghĩa … Nhưng đó là điều phải mất rất lâu thời gian mới có thể hiểu được, và hơn nữa chỉ từ khi tôi trở thành một người Công giáo thì tôi mới bắt đầu biết trân trọng trọn vẹn quyền năng hoán cải và sức mạnh của ân sủng của Thiên Chúa, và trên hết là qua Bí tích Thánh thể. Đó là một mô thức hoàn toàn khác.

BRANDON: Chị đã đi theo một con đường riêng để đến với Chúa, một con đường thuộc triết học nhưng cũng đầy tính văn chương. Vậy những nền tảng khi chị còn là giáo sư tiếng Anh đã góp phần cho sự hoán cải của chị như thế nào, và sức tưởng tượng đóng một vai trò như thế nào trong đó?

HOLLY: Tôi không thích nghe những tranh luận về Thiên Chúa, hay đọc Thánh Kinh, nhưng ân sủng của Chúa hoạt động qua sự tưởng tượng của tôi … giống như một làn gió lùa dưới khung cửa đóng kín và khóa kỹ.

Để bắt đầu, văn chương Ki-tô giáo cổ điển đã gieo những hạt giống trong sức tưởng tượng của tôi khi còn là cô gái nhỏ, điều đó tôi viết chi tiết hơn trong quyển sách của tôi. Sau này các văn sĩ Ki-tô giáo đã giúp cho tôi những tiếng nói bất đồng với thể loại văn hiện thực mà tôi đã được học — có thể là tiếng nói bất đồng duy nhất, vì tôi không thích đọc bất kỳ cái gì đề cập trực tiếp đến chủ đề đức tin hay đạo Công giáo, và do vậy không được tiếp cận với tư tưởng Ki-tô giáo chính thống.
Tôi lại phát hiện ra những tác giả yêu thích của tôi lại là những người có đức tin Ki-tô rất vững vàng. C.S. Lewis và J.R.R. Tolkien là đầu tiên; rồi là các nhà thơ: Gerard Manley Hopkins, George Herbert, John Donne, và một số tác giả khác. Những tác phẩm của họ làm đảo lộn những khẳng định vô thần của tôi, một phần nào đó vì tôi không thể phân loại thể thơ của họ vào nhóm “tôn giáo” hay “không tôn giáo”, đức tin của họ hòa trộn và xuyên suốt tác phẩm, và các bài thơ làm tôi rung động nhất là “The Windhover” (Chim cắt) và Donne’s Holy Sonnets (Bản Sonat Thánh của Donne) của Hopkins trình bày rõ ràng quan điểm Ki-tô giáo. Tôi đã cố gắng xét đức tin của họ như là một cái gì đó có thể tách rời khỏi khả năng viết vô thần của họ, nhưng cái kiểu phân tích đó của tôi không thành công, đặc biệt hoàn toàn thất bại với tác phẩm văn học đồ sộ và phong phú như Chúa tể những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings).

Cuối cùng, tôi đi đến quyết định là tôi cần phải đặt thêm nhiều câu hỏi. Tôi cần phải tìm hiểu tại sao một con người như Donne có ý gì khi ông ta nói về đức tin vào Thiên Chúa, vì bất kỳ ông ta có ngụ ý gì đi nữa thì nó có vẻ không phải là “đức tin mù lòa, đối nghịch lại với lý trí’.

Các nhà văn Công giáo đã khêu gợi sự tò mò của tôi đi tìm ý nghĩa của “đức tin”. Trong suốt nhiều năm đọc những tác phẩm như Biên niên sử Narnia (Chronicles of Narnia), Chúa tể của những Chiếc nhẫn (The Lord of the Rings), và thơ của Hopkins đã cho tôi khái niệm về một con đường khác để nhìn vào thế giới. Đó là một cái nhìn vào thế giới đầy ý nghĩa và đẹp tuyệt vời, và điều đó giải thích được ý nghĩa của niềm vui và sự đau khổ, ánh sáng và bóng tối mà tôi có thể nhìn thấy và trải nghiệm. Quan điểm vô thần của tôi về thế giới, theo sự so sánh, rất hạn hẹp và bằng phẳng; nó không thể giải thích cho tôi tại sao tôi lại xúc động trước cái đẹp và quan tâm đến lẽ phải. Tôi tự nghĩ, khẳng định của Ki-tô giáo có thể chưa đúng, nhưng nó có chiều sâu của nó, và điều đó rất đáng để tìm hiểu.

BRANDON: Trong nhiều năm chị được huấn luyện là một vận động viên đấu kiếm tài năng, tham dự nhiều vòng thi đấu trên khắp đất nước (và đã giành được không ít giải thưởng). Việc đấu kiếm có gì liên quan đến sự trở lại của chị không?

HOLLY: Đấu kiếm cũng có liên quan đến sự hoán cải của tôi theo nhiều cách, nhưng trực tiếp nhất là qua việc chứng kiến huấn luyện viên đấu kiếm của tôi! Một điều quá sức ngạc nhiên đối với tôi, sau khi làm việc với huấn luyện viên suốt 1 năm, tôi mới biết rằng ông ấy là người Ki-tô hữu. Ông là một huấn luyện viên mẫu mực, rất kiên nhẫn (và tôi không phải là một học trò dễ bảo!), thông minh và thâm trầm, và rõ ràng là một Ki-tô hữu nhiệt thành, và vì thế ông đã thử thách lối suy nghĩ áp đặt của tôi về những người Ki-tô hữu là những người huênh hoang và nhẹ dạ. Vì vậy khi tôi bắt đầu tò mò về những gì người Ki-tô hữu thực sự tin tưởng — tức là khi các bài thơ bắt đầu có tác dụng với tôi! — Tôi nhận thấy mình có thể hỏi huấn luyện viên của tôi các câu hỏi và cảm thấy an tâm và được tôn trọng khi tôi trao đổi về các vấn đền này.
Sau khi trở thành một Ki-tô hữu, đấu kiếm trở thành một con đường để trở nên tông đồ và là một phép ẩn dụ thực tại để phát triển đời sống Ki-tô hữu. “Hãy cầm lấy gươm của Thánh Thần” âm vang trong tôi!

BRANDON: Trong quyển Không phải người của Chúa (Not God’s Type), chị kể chi tiết một số quyển sách được chứng minh rất hữu ích trong suốt hành trình của chị. Chị có thể kể một vài quyển?

HOLLY: Tôi đọc rất nhiều sách! Quyển Ranh giới Ki-tô giáo (Mere Christianity) là một trong những quyển quan trọng nhất, đặc biệt những tranh luận liên quan đến đạo đức của ông, nhưng cũng còn vì cách ông cung cấp những hình ảnh sinh động và những phương pháp loại suy để giảng giải ý nghĩa các từ ngữ như “đức tin” và “sự ăn năn.”

Với các câu hỏi về lịch sử và triết học, tôi đặc biệt được quyển sách mang tên Thiên Chúa có tồn tại không? (Does God Exist?), một tranh luận giữa J.P. Moreland (một Ki-tô hữu) và Kai Nielsen (một người vô thần), các chuyên mục của triết gia William Lane Craig, và quyển Bảo vệ các phép lạ (In Defense of Miracles), trong đó có những tranh luận nổi tiếng của David Hume phản bác lại các phép lạ cũng như những tranh cãi về tình trạng có hay không có phép lạ . Một trong những quyển sách quan trọng mà tôi đọc là một tác phẩm uyên bác có uy tín của N.T. Wright có tên Sự Phục Sinh của Con Thiên Chúa (The Resurrection of the Son of God), quyển sách đã thuyết phục được tôi Phục sinh là một sự kiện lịch sử.

Văn chương cũng giúp tôi trên đường tìm chân lý. Đặc biệt quyển Biên niên sử của Narnia (Chronicles of Narnia) giúp tôi liên kết lý trí của mình với sự tưởng tượng, vì thế tôi đã nắm bắt được ý nghĩa của sự hiện diện của Thiên Chúa và nhìn thấy được tầm quan trọng của vấn đề đó chứ không còn là một tư tưởng trừu tượng nữa, nhưng xem đó là một vấn đề có ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi.

BRANDON: Có thể chìa khóa then chốt cho sự trở lại của chị là khi chị bắt đầu tin vào sự Phục sinh từ cõi chết của Đức Giê-su mang tính lịch sử. Chứng cứ nào dẫn chị đến quyết định đó?

HOLLY: Một trong những bước đưa tôi đến quyết định đó là nhận thức của tôi về các phép lạ vừa có thể xảy ra vừa mang tính lý trí. Từ khi tôi bước đến được niềm tin rằng (trên các cơ sở khác) có một Đấng Tạo Hóa siêu việt là nguồn cội của luân lý, của trật tự và của lý trí thì tôi liền tìm ra được ý nghĩa rằng thế giới thực tại này có trật tự và có thể lý giải được, với những nguyên tắc tự nhiên hoạt động theo một cách có trật tự, nhưng cũng có một chiều kích siêu nhiên của thực thể. Giống như việc tôi có thể để cho thiên nhiên tự làm công việc của mình trong khu vườn của tôi, hay tôi có thể làm việc để thay đổi tính ‘tự nhiên’ của vạn vật bằng cách trồng thêm một cái cây hay nhổ một cây con, thật hợp lý khi cho rằng Đấng Tạo Hóa đã tạo ra những căn nguyên của tự nhiên hay trực tiếp hoạt động, can thiệp vào lịch sử. Do vậy tôi đã cẩn thận cân nhắc rằng ít nhất khả năng đã có một phép lạ siêu việt xảy ra: biến cố Phục Sinh.

Có nhiều chi tiết chứng cứ khớp với nhau tạo ra một bằng chứng thuyết phục về biến cố Phục Sinh; tôi sẽ đề cập một vài điều ở đây. Một trong những bằng chứng là thái độ của các tông đồ trước và sau biến cố Phục Sinh. Những trình thuật Tin mừng không mô tả thái độ của các ông sau biến cố Khổ Hình Thập Giá theo cách chờ đợi ánh sáng hão huyền. Dù rằng Chúa Giê-su đã nói trước về sự Phục sinh của Người, các tông đồ đã hoàn toàn đầu hàng và bỏ đi tản mác, cho rằng Đức Giê-su là một Đấng Messia bị thất bại. Nếu các tông đồ sau này cố tình dựng lên câu truyện Biến cố Phục sinh, tại sao các ông lại phải chèn vào những chi tiết mô tả các ông như người phản bội và nhát gan? Những nghiên cứu hàn lâm của tôi trong văn chương cho phép tôi nhận ra rằng Tin Mừng đã được viết như lịch sử, không phải là truyện thần thoại hay ngụ ngôn, và tôi cũng tìm ra rằng chắc chắn không có đủ thời gian để dựng lên một truyền thuyết. Giải thích hợp lý nhất cho tất cả các biến cố đó bắt đầu có vẻ sáng tỏ nếu được xét chi tiết theo cách này, và đúng là các biến cố đó đã xảy ra.

Rồi, sau biến cố Phục Sinh, có một sự thay đổi hoàn toàn trong thái độ của các ông, các ông đã trở thành những người dũng cảm loan báo Chúa Ki-tô Phục Sinh. Có rất nhiều từ ngữ trong thời cổ đại người ta đã dùng để mô tả việc nhìn thấy ma, nếu các ông dùng những từ ngữ này thì chắc các ông đã ít gặp rắc rối! Nhưng các ông đã nói về Chúa Giê-su là một người vẫn đang sống, thân xác đã sống lại, và vắn tắt một lời là các ông sẵn sàng chết vì sự khẳng định đó.

Và có lẽ bằng chứng thuyết phục nhất về Biến cố Phục sinh là chính Giáo Hội. Nếu tôi cho rằng Giáo Hội đã tự tạo ra biến cố Phục Sinh nhằm giải thích cho sự tôn thờ Chúa Giê-su của mình, thì tôi phải đặt lại câu hỏi, bằng cách nào sự tôn thờ đó lại đứng ở vị trí hàng đầu? Nếu Giáo Hội không phải là kết quả của một phép lạ, thì chính Giáo hội là một phép lạ.

Điều quan trọng phải nói ở đây là tôi không bị thuyết phục bởi một hay hai chứng cứ riêng lẻ nào đó; tôi bị thuyết phục bởi hàng loạt những bằng chứng cộng lại, tất cả đều gắn kết khớp với nhau. Các biến cố lịch sử không thể được chứng minh như một bài toán hay thử nghiệm như một giả thuyết khoa học, và luôn luôn có cách để đưa ra một giải thích thay thế. Nhưng bởi vì một thực tại thay thế không có nghĩa là nó phải hoàn toàn tương đồng về tính hợp lý hay tính có thể có. Nói riêng về lĩnh vực văn chương của tôi, có những người khẳng định rằng William Shakespeare thực sự không viết các vở kịch của ông. Thậm chí một một vài chỗ khá mơ hồ về tính chính thống: ví dụ, một vài vở kịch của ông được viết chung tác giả, và với tôi có dường như ít nhất một đoạn trong vở Macbeth (diễn thuyết của Hecate) là được viết thêm về sau. Tuy nhiên, nếu chứng cứ được xét theo cách tổng hợp chung lại thì quyền tác giả là của Shakespeare!

Vì thế, đó cũng là những gì đã xảy ra khi tôi đánh giá về Biến cố Phục sinh, thậm chí với nhiều lý do thuyết phục hơn chứng minh cho khẳng định của Ki-tô giáo. Chứng cứ đã được giải thích rõ ràng nhất với kết luận rằng biến cố Phục sinh thực sự đã xảy ra. Và khi đến được với kết luận đó, tôi hiểu rằng chắc chắn phải có những ý nghĩa gì đó trong đời tôi. Tôi phải tự đặt câu hỏi cho mình: “Điều này có ý nghĩa gì cho tôi? Bây giờ tôi phải làm gì …?”

Và đây là nơi dành cho vai trò của sự hình dung của tôi: giúp tôi tạo mối liên kết giữa lý trí và ý chí. Thực vậy, sự tưởng tượng trong văn chương đóng một vai trò quan trọng trong đời sống Ki-tô hữu của tôi. Những tiểu thuyết và thi ca vĩ đại nuôi dưỡng đời sống Ki-tô hữu của tôi, giúp tôi lớn lên trong đức tin - và làm tôi say sưa trong đức tin.

Theo: http://baoconggiao.com/vi/news/Tin-Tuc-Giao-Hoi-The-Gioi/Tu-mot-giao-su-vo-than-tro-lai-Cong-Giao-Phong-van-Tien-si-Holly-Ordway-8707/

NGHE RADIO CÔNG GIÁO

SỨ ĐIỆP

complex{fbig2}/Su Diep Chua Giesu,Su Diep Chua Cha,Su Diep Duc Me

SỐNG ĐẠO

complex{fbig2}/Song Dao,Cac Thanh,Guong Sang,Cau Nguyen

ĐIỀM BÁO

complex{fbig2}/Dau Chi Thoi Dai,Dau Hieu Thoi Cuoi,Diem Bao

GIÁO HỘI

complex{fbig2}/Tin Giao Hoi,Vatican,Giao Hoang

CHIA SẺ

complex{fbig2}/Suy Tu,Chia Se,Suu Tam

ĐỜI SỐNG

complex{fbig2}/Tong Hop, Suc Khoe, Doi Song

NGHE

complex{fbig2}/Audio, Bai Giang, Am Nhac

XEM

complex{fbig2}/Video, Thanh Ca,

ẢNH

[Duc Giao Hoang][gallery2]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.