Bài Viết by "Phép Lạ Đức Mẹ"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phép Lạ Đức Mẹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Phép lạ: Ảnh Đức Mẹ Hoa Hồng khóc ra Máu tại Ấn Độ mời gọi chúng ta đi xưng tội càng thường xuyên càng tốt.

Để chúng ta sống trong Ân sủng kẻo chết bất đắc kỳ tử mà vẫn mang tội trọng là sa hỏa ngục muôn đời.


Các học sinh Ấn giáo lẫn Công Giáo ở Ấn Độ nói rằng mình đã chứng kiến một lần Chúa Kitô hiện ra, và một số lần Đức Mẹ hiện ra giữa hương hoa nhài, cùng ơn ăn năn hối cải, chữa lành tai cho một bé gái.
Địa điểm của những cuộc hiện ra này là ở nhà thờ St. Ambrose và trường tiểu học ở Edavanakkad. Giáo xứ và trường học này thuộc tổng giáo phận Verapoly.
Linh mục Merton D’Silva nói rằng giới chức của giáo phận và đang chờ và xem, trước khi can thiệp vào chuyện này. Trang tin tức Matters India cũng đưa tin dựa trên lời kể của linh mục quản xứ.
Theo lời của cha D’Silva, việc hiện ra bắt đầu từ ngày 28-9 khi một học sinh ở trường, một bé gái người Ấn giáo tên là Krishnaveda đến nhà thờ để cầu nguyện xin ơn chữa lành tai. Cô bé cho một ít nước thánh vào tai và sau đó cô nói với các bạn học của mình rằng nước thánh đã giúp cho tai của mình lành ngay lập tức.
Khi rời trường đến nhà thờ cầu nguyện, các em ngước lên và thấy trên trời một hình ảnh Chúa Kitô hiện ra. Các em gọi tên Chúa Giêsu và đến nhà thờ để tạ ơn Chúa vì đã chữa lành tai cho bạn mình. Trong nhóm chỉ có một cô bé người Công giáo là Ambrosiya, tình nguyện  hướng dẫn bạn mình lần hạt. Nhưng cô bé không biết nhớ Năm Sự Sáng, bởi hôm đó là ngày thứ năm, và cô bé đã đi nhờ thầy giáo. Khi thầy giáo đến nơi vào lúc 1:45 chiều thì các em đang cầu nguyện. Một trong các cô bé tên là Anusree nói với thầy giáo rằng Đức Mẹ đã đứng dưới bàn thờ. Các em còn nói là đã ngửi thấy mùi hương hoa nhài.
Khi thầy giáo đưa các em ra khỏi nhà thờ, các em nói rằng Đức Mẹ đi theo mình và không muốn các em ra về. Thầy giáo đi nói với các thầy giáo khác, còn một số em thì đi tìm cha D’Silva. Khi cha đưa các em về lại nhà thờ để các em có thể cầu nguyện, các em nói rằng đang thấy Đức Mẹ đứng dưới bàn thờ nhưng mà những người lớn thì không thấy gì cả. Theo các em, Đức Mẹ hứa với các em giúp các em trong việc học hành và hứa xin ơn Chúa Thánh Thần cho các em, và Đức Mẹ còn hứa cho các em lên thiên đàng.
Tin tức về cuộc hiện ra này loan ra. Ngày 03-10 rất đông người tập trung lần hạt tại nhà thờ với các thị nhân nhỏ. Sau một hồi ai cũng ngửi thấy mùi hương hoa nhài, còn các em nói rằng mình vừa thấy Đức Mẹ hiện ra một lần nữa. Một linh mục yêu cầu các em chỉ ra điểm chính xác mà Đức Mẹ hiện ra,  và cộng đoàn thấy một ánh sáng lóe lên, còn linh mục thì nói rằng mình thấy có ai đó vỗ nhẹ vào đầu mình. Nhiều người trong cộng đoàn nói cho biết họ được ơn hoán cải khi cầu nguyện.

Theo báo cáo, hình ảnh này đột nhiên xuất hiện trên tấm vải nằm trên giường của Sr. Aleksandra, một nữ tu tôn giáo ở Addis Ababa.
Nó xảy ra vào ngày 9 tháng 1 năm 2017 lúc 1 giờ chiều. Một chị đến nhà bếp để nấu bữa trưa và Sr. Aleksandra cảm thấy một sức mạnh đẩy đi đến phòng và khi Sr đến phòng, Sr nhìn thấy bức ảnh này và gọi cho Sr Auxilia và cả hai cùng quỳ xuống và cầu nguyện kinh mân côi.

Cùng buổi tối họ đến nhà chúng tôi để dự Thánh lễ và nói với Chị em về điều đó và ngay lập tức họ đã đến xem. Hình ảnh vẫn còn đó. Họ quấn quanh bức tranh những bông hoa và một số Giáo Phụ Dòng Salesian, và Hồng Y cũng đã đến thăm.


“Đó là một hình ảnh kỳ diệu và chúng tôi không hiểu những gì Mẹ Mary đang yêu cầu từ chúng tôi. Nhiều chị em chúng tôi đã đến để xem “.

Nguồn: fb Anna Bui

Ở ngay quảng trường của Thánh bộ Giáo lý đức tin, một bức bích họa mô tả Đức Trinh Nữ Maria bồng Chúa Hài Nhi vẫn còn nguyên vẹn sau trận mưa bom dày đặc trong chiến tranh thế giới lần II. Từ đó về sau, bức tranh đã được sùng kính đặc biệt.
Bích họa “Đức Bà cản bom” được gọi như thế do một biến cố hết sức đặc biệt. Ngày 1.3.1944, khi máy bay oanh kích phá sập các tòa nhà ở quảng trường Thánh bộ Giáo lý đức tin tại Rôma, bích họa Đức Trinh Nữ bồng Chúa Hài Nhi vẫn còn nguyên vẹn lạ lùng.
Nhà văn Ý, J.S. Grioni, kể lại rằng: “Tối hôm ấy, khoảng 20 giờ, một máy bay đã thả sáu quả bom, gây cháy nổ kinh hoàng, và chấn động mọi tòa nhà tại quảng trường. Vụ nổ phá sập cung điện Thánh bộ, làm hư hỏng các căn phòng, và đập vỡ mọi cửa kính, ngoại trừ tấm kính che chắn bức vẽ. Tranh Đức Bà không hề hấn một cách kỳ lạ, cho dù vụ nổ đã đánh sập bức tường quanh tấm chân dung”. 

Bức bích họa được vẽ từ thế kỷ 17-18, và hiện được sùng kính với tên “Đức Mẹ thông ban ơn Chúa” hay “Đức Bà cản bom”. Tác phẩm này được đặt ở khu vực giữa cung điện Thánh bộ Giáo lý đức tin và lối vào Nguyện đường Thánh Phêrô, được treo trên tường kế cận một khu vườn nhỏ. Nguyện đường đã yêu cầu Tòa Thánh đặt tác phẩm vào một khung hình mới bằng hoa cương, giữa hai tượng thiên thần lớn, tay cầm khiên có đinh.
https://baoconggiao.info/giao-hoi-the-gioi/cau-chuyen-ky-la-ve-dhuc-ba-can-bom-o-roma-7410.html

Ngày 13/10/1917, hơn 80.000 người đã đổ về ngôi làng Fetima, Bồ Đào Nha để chứng kiến “Phép lạ của Mặt trời”. Họ kể lại rằng: “Một vật thể tròn như chiếc đĩa sáng rực trên bầu trời, vượt qua đám đông dưới mặt đất. Vật thể phát ra ánh sáng và nhiệt quang trước khi chìm vào đám mây”.
Hơn 80.000 người đã đổ về ngôi làng Fetima để chứng kiến “Phép lạ của Mặt trời”. (Ảnh: Wikimedia) 

Lúcia Santos và 2 người em họ Francisco Marto và Jacinta kể lại, đầu mùa xuân năm 1916 là lần đầu tiên Thiên thần ghé đến thăm hỏi các em khi đang trú mưa trong một cái hang trên đồng. Từ đây, tần suất ghé thăm của “những vị khách Thiên đường” trở nên thường xuyên hơn. 

Lúcia Santos (trái) cùng người em họ, Jacinta và Francisco Marto, 1917. (Ảnh: Wikimedia) 

Những đứa trẻ kể lại, vị Thiên thần đã quay lại thăm các em thêm 2 lần nữa trong năm 1916.

Tiếp đó đến trưa 13/5/1917, trong khi cả ba chị em đang đọc kinh thì bỗng xuất hiện một phụ nữ mặc áo trắng tỏa ánh hào quang, nhưng không phải là vị Thiên thần mà các em đã từng gặp những lần trước đó. Bà nói mình là Đức Mẹ Maria rồi bảo với ba em rằng hãy tiếp tục đọc kinh hàng ngày để cầu nguyện cho thế giới chấm dứt chiến tranh và được hòa bình. Trước khi biến mất, bà dặn 3 em hãy trở lại nơi đây đúng buổi trưa ngày 13 của tháng sau. 

Các em về nhà thuật lại sự việc cho cha mẹ nghe. Tin này nhanh chóng loan truyền khắp làng, đa số mọi người tỏ ra không tin và hoài nghi, cho rằng đây là lời bịa đặt của những đứa nhỏ quậy phá. Theo lời kể, 3 chị em Lucia đã gặp lại vị Thiên nữ vào những ngày 13/6, 13/7, 19/8, 13/9 và khẳng định rằng Đức mẹ vĩ đại sẽ quay trở lại vào ngày 13/10/1917 trước sự chứng kiến của nhiều người. 

Trong suốt cuộc gặp mặt, dù cả 3 anh em đều không thấy miệng người phụ nữ mấp máy nhưng chúng lại có thể nghe thấy giọng nói vang động mỗi lần người phụ nữ xuất hiện. 

Trong lúc được hỏi, những đứa trẻ trả lời rằng, vị Thiên nữ hiện ra cao đẹp, tương tự như bức tượng của Đức Mẹ Đồng trinh Mary. 

Phép lạ của Mặt trời

Vào đúng ngày 13/10/1917, tại Fatima, hơn 80.000 bao gồm nhiều phóng viên, kí giả đã tập trung lại để theo dõi buổi cầu nguyện của 3 đứa trẻ. Lúc giữa trưa bỗng xuất hiện một hiện tượng kì lạ, một vật thể tròn như chiếc đĩa sáng rực trên bầu trời, vượt qua đám đông dưới mặt đất. Vật thể phát ra ánh sáng và nhiệt quang trước khi chìm vào đám mây. Sự việc diễn ra trong 10 phút và tất cả trở lại bình thường ngay sau đó. 

Tranh “Joshua Commanding the Sun to Stand Still” của Gustave Dore, 1883. 

Giáo hội công giáo nhìn nhận những tiên tri về tâm linh và huyền bí là quyền năng giới hạn, đó chỉ có thể là tự nhiên. Vì vậy, họ đã cố gắng che giấu những lời giải thích của các nhà vật lý những người đã kể lại cuộc gặp gỡ của họ với một vị Thần, và nhà thờ sau đó xác định đó là Đức Trinh nữ Maria. 

Lời tiên tri thành hiện thực được đưa lên những trang báo thật sự đã tạo để lại tiếng vang đến tận ngày nay. 


Bài viết trên tờ báo Ilustração Portuguesa đăng hôm 29/10/1917, cho thấy những người đang nhìn Mặt trời tại Fatima. (Ảnh: Wikimedia) 

“Phép lạ của Mặt trời” có lẽ là hình ảnh siêu nhiên nổi tiếng nhất từng được ghi chép lại trong lịch sử, họ nhấn mạnh rằng đó là giây phút của ánh sáng, vật thể hình bầu dục phát sáng như ngọc trai. 
Nhân chứng

Giáo sư José Maria Proença de Almeida Garrett – Giáo sư môn Khoa học Tự nhiên thuộc đại học Coimbra, kể lại những gì ông đã quan sát thấy ở Fatima hôm đó: 

“Hôm đó, tôi đến nơi vào giữa trưa. Cơn mưa tầm tã từ buổi sáng sớm chẳng những không ngớt, mà bây giờ còn bị những trận gió dữ dội thổi ào tới tấp như muốn làm tràn ngập cả cảnh vật. (…) Lúc đó vào khoảng 2h chiều. Trong vài giây lát trước đó, Mặt trời còn bị che khuất sau đám mây dày đặc, bỗng chốc chiếu sáng qua đám mây. 

Mọi cặp mắt đều hướng nhìn về phía Mặt trời như bị một sức mạnh nam châm vô hình nào đó cuốn hút vậy. Chính tôi cũng nhìn thẳng vào Mặt trời. Nó trông giống như một cái đĩa sáng rực rỡ, chói lọi nhưng không làm lóa mắt. (…) Nhưng Mặt trời vào lúc bấy giờ không làm lóa mặt, không giống như khi chúng ta nhìn nó bị che khuất sau một đám mây. Không, bầu trời lúc bấy giờ hoàn toàn trong sáng, chứ không hề có một vẩn mây nào che khuất Mặt trời cả; nó xuất hiện rõ ràng giữa bầu trời. 

Cái đĩa sáng chói đầy màu sắc rực rỡ đó không đứng yên, nhưng chuyển động rất nhanh. Và đó không phải là những tia sáng lung linh phát ra từ các ngôi sao. Cái đĩa lửa quay tròn với một tốc độ nhanh khủng khiếp, khiến từ đám đông những người có mặt hôm đó bỗng chốc vang lên những tiếng kêu la sợ hãi thất thanh. 

Mặt trời cứ tiếp tục quay tròn như thế cùng với tốc độ nhanh khủng khiếp tương tự, đồng thời, nó tách ra khỏi không trung và tiến đến gần mặt đất với màu đỏ máu, mọi cảnh vật như đang sắp sửa bị nghiền nát dưới độ quay nhanh khủng khiếp của vòng lửa khổng lồ. (…) Tất cả những hiện tượng này tôi đã bình tĩnh quan sát và trình bày ra đây sự nhận xét khách quan của mình, chứ không do bất cứ sự xúc động nào chi phối cả. Tôi cũng hoàn toàn chờ đợi sự nhận xét và quan điểm của người khác”. 


Đám đông theo dõi hiện tượng lạ xuất hiện trên bầu trời Fatima. 

Linh mục Joaquim Lourenco, hiện là nhà giáo luật học của giáo phận Leiria, nhưng vào lúc xảy ra phép lạ, hãy còn là một học trò và cùng người anh và các bạn bè của ông đang có mặt tại làng Alburitel, cách Fatima vào khoảng 54km. Tất cả đều tưởng ngày tận thế đã đến. 

“Tôi nghĩ rằng tôi không đủ khả năng để diễn tả lại những gì chính tôi đã chứng kiến xưa kia. Tôi nhìn như dán mắt vào Mặt trời để quan sát: Mặt trời có màu nhợt, đến nỗi tôi có thể nhìn thẳng vào đó mà không bị đau mắt chút nào cả. Mặt trời vào lúc bấy giờ, trông tựa như một quả bóng bằng tuyết, quay chung quanh một cái trục, và bỗng chốc như rơi ra khỏi bầu trời, quay lượn ngoằn ngoèo và tiến sát gần mặt đất với vẻ đầy đe dọa. Vì quá sợ hãi, tôi đã chạy nấp vào phía sau người lớn đang đứng khóc lóc vì tưởng rằng thế giới trong giây lát nữa sẽ bị hủy diệt. Bên ngoài ngôi trường làng của chúng tôi, một đám đông đang tụ họp; còn đám học trò chúng tôi thì xô nhau chạy ra khỏi lớp và xuống đường. Khi phép lạ bắt đầu xảy ra, chúng tôi nghe thấy tiếng kêu la của những người đang đứng đầy ngoài đường phía trước cổng trường, đàn ông cũng như đàn bà… 

Lúc bấy giờ có một người vô thần, mà cả buổi sáng hôm đó cứ rêu rao lên tiếng chê bai cười nhạo những người tới Fatima là ‘những kẻ ngu ngốc’, cốt chỉ để xem một đứa bé gái nhà quê. Nhưng trong suốt lúc xảy ra phép lạ thì ông ta đứng đờ ra như một người bị mất hồn và chỉ đưa mắt dán chặt vào Mặt trời. Ông ta bắt đầu run rẩy, rồi quỳ xuống trên bùn lầy và giơ hai tay lên trời cầu xin Chúa tha thứ cho mình”. 

Bối cảnh Bồ Đào Nha lúc bấy giờ

Những thập niên cuối thế kỷ 19 và hai thập niên đầu thế kỷ 20 là thời kỳ đen tối và đặc biệt nhất trong lịch sử Bồ Đào Nha. Những năm 1890 -1899 và thập kỷ đầu thế kỷ 20, Bồ Đào Nha là một quốc gia quân chủ và mộ đạo gắn liền với Giáo hội Công giáo. Thống kê nói vào thời gian này có lúc cứ 9 người thì 2 người là linh mục hoặc tu sĩ. 

Từ những năm cuối thế kỷ 19, các lực lượng chống Hoàng gia và giáo hội bắt đầu thành hình. Năm 1900, các lực lượng này kết hợp với nhau trong chủ trương “vị vua cuối cùng sẽ bị treo cổ cùng với ruột gan của vị linh mục cuối cùng”. Năm 1908, vua Charles I và Hoàng Thái tử bị ám sát. Năm 1910, vua Manuel I trốn sang Anh Quốc, và chính thể cộng hòa cách mạng lên cầm quyền, đi theo chủ trương Marxist, vô Thần; cai trị dựa trên khủng bố tàn bạo và gây sợ hãi. 

Theo thống kê, giai đoạn năm 1911-1916, ít nhất 17 ngàn linh mục, tu sĩ nam nữ bị giết, hoặc riêng rẽ hoặc tập thể. Đôi khi ruột gan và đầu của người bị giết bị treo vào cây sào đem riễu ngoài đường phố để khủng bố tinh thần các linh mục, tu sĩ, còn sót lại. Tất cả các Thánh đường đều bị đóng cửa hoặc tiêu hủy. Không một ai dám đi dự Thánh lễ. Ảnh tượng Chúa, Đức mẹ và các Thánh bị chà đạp giữa đường phố. Cùng lúc này, Thế chiến I – một trong những đại ác họa của nhân loại bắt đầu diễn ra tại châu Âu. 

Pagan – tín ngưỡng đa thần có một lịch sử lâu dài xung quanh Fatima. Những tác phẩm văn học địa phương chứa đựng nhiều câu chuyện về những nàng tiên và những cuộc gặp gỡ thần bí. Những vị tiên này đôi khi tương tác với loài người, đưa ra lời khuyên hoặc cảnh báo. Đôi khi, họ biểu thị sự xem thường đối với năng lực của con người trên Trái đất.

Tại Bồ Đào Nha, có rất nhiều ghi chép viết về những người phụ nữ có khả năng siêu nhiên, được gọi là Moura Encantada – người giám hộ lối vào không gian khác cũng như Trái đất. Những phụ nữ này có khả năng xoay chuyển Mặt trời và nhiều năng lực khác. 

Người ta cho rằng, chính trong thời kỳ loạn lạc và tối khổ, những vị Thần đã tới để đem ánh sáng đến xoa dịu con chiên, hướng con người quay trở lại những đạo đức thiện lương vốn có. 


Ngọc Sam biên dịch

Nhiều người đổ xô đến nhà thờ trong ngôi làng nhỏ gần thủ đô Macedonia sau khi có người trông thấy nước mắt nhỏ xuống từ tranh Đức mẹ Đồng trinh.

Đây là lần thứ hai liên tiếp hiện tượng tranh Đức mẹ Đồng trinh nhỏ "nước mắt" xảy ra tại Nhà thờ Holy Archangel Michael ở làng Trubarevo gần thủ đô Skopje, Cộng hòa Macedonia, theo Express.

Tranh Đức mẹ Đồng trinh nhỏ "nước mắt" trong nhà thờ Macedonia. (Ảnh: CEN).

Theo các nhân chứng, lần gần nhất những vật thể trông giống giọt nước mắt xuất hiện trên bức tranh Đức mẹ Đồng trinh trong nhà thờ là hôm 1/1. Sau khi được thông báo về sự việc, cha xứ ở nhà thờ đã liên lạc với các nhà chức trách ở Nhà thờ Chính thống giáo Macedonia để nhờ xác nhận điều kỳ lạ. Trước đó, những giọt nước mắt cũng rơi xuống từ bức tranh vào tháng 4 năm ngoái, ngay trước lễ Phục sinh.

Nước mắt nhỏ xuống trên mặt tranh. (Ảnh: CEN).

Nhiều nhà khoa học cũng như người theo đạo Cơ Đốc đã tới nhà thờ để tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ. Những người sùng đạo cho rằng đây là dấu hiệu cảnh báo về tương lai.
"Khi cha xứ kết thúc buổi lễ sáng Chủ nhật, một con chiên trông thấy vài giọt nước rơi ra từ mắt trái của Đức mẹ Đồng trinh trong bức tranh. Cha xứ Boban lấy khăn lau và cho biết giọt nước có mùi giống nhựa thơm. Sau đó, thêm vài giọt nước nữa rơi ra từ mặt Đức mẹ. Chúng tôi ở lại nhà thờ cả ngày và những giọt nước tiếp tục xuất hiện", Risto Setinov, chủ tịch hội nhà thờ địa phương, cho biết.

Nhà thờ Holy Archangel Michael ở làng Trubarevo. (Ảnh: CEN).

Tin tức về hiện tượng lạ truyền đến tổng giám mục Stefan Veljanovski, người đứng đầu Nhà thờ Chính thống giáo Macedonia. Tổng giám mục Veljanovski đã cầu nguyện trước bức tranh và tin rằng những giọt nước mắt là dấu hiệu của Chúa.
Tuy nhiên, một số người cho rằng đây có thể chỉ là hiện tượng ngưng tụ hơi nước trên bức tranh. Nhà chức trách Macedonia chưa đưa ra lời giải thích về hiện tượng này.

Lạy Mẹ nhân hiền, Đấng hằng cứu giúp những ai khốn cùng khiêm tốn kêu cầu Mẹ, xin Mẹ hãy gìn giữ con. Con tin nơi Mẹ. Mẹ đã dùng một phép lạ cả thể để trả lời cho nghi ngờ của con. Con chưa biết nhận ra phép lạ và còn tiếp tục hồ nghi. Nhưng ước muốn lớn lao nhất và khát vọng thâm sâu nhất của lòng con là đạt đến Đức Tin!
Đó là lời cầu xin tha thiết của ông Alexis Carrel (1873-1944), bác sĩ Pháp trẻ tuổi, tại đền thánh Đức Mẹ Lộ Đức, vào một đêm khuya vắng năm 1903, sau khi chứng kiến phép lạ một thanh nữ khỏi bệnh.

Alexis Carrel chào đời tại Lyon (Bắc Pháp) trong một gia đình Công Giáo đạo đức. Alexis mồ côi Cha năm lên 4 tuổi và được Mẹ giáo dục trong niềm kính sợ THIÊN CHÚA. Nhưng khi lớn lên và trở thành sinh viên xuất sắc, Alexis bỗng đánh mất Đức Tin Công Giáo đơn sơ trong tuổi thơ của mình. Việc Alexis mất Đức Tin một phần do ảnh hưởng chủ thuyết duy vật vô thần rất thịnh hành trong xã hội Âu Châu vào những thập niên cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Năm 30 tuổi, Alexis Carrel trở thành bác sĩ và là giáo sư giải phẫu học nổi tiếng của phân khoa thuốc đại học Lyon. Một ngày trong năm 1903, giáo phận Lyon tổ chức cuộc hành hương Lộ Đức dành riêng cho các bệnh nhân.

Vì bị ngăn trở vào phút chót, một bác sĩ bạn nhờ bác sĩ Carrel thay mình tháp tùng các bệnh nhân. Bác sĩ Carrel miễn cưỡng nhận lời, nhưng tận thâm tâm ông vui mừng vì được dịp nhạo cười và chỉ trích tại chỗ những chuyện gọi là ”phép lạ Lộ Đức”. Theo ông, đó chỉ là chuyện nhảm nhí của các tín hữu Công Giáo vô học, ngây thơ và dễ tin!

Trước luận cứ vô thần của ông, một bác sĩ khác, cùng tháp tùng các bệnh nhân trong chuyến hành hương Lộ Đức năm đó, vặn lại:

– Có những trường hợp bị ung thư, lao phổi nặng và bị mù lòa thật sự mà y khoa bó tay, lại được chữa khỏi cách lạ thường, khiến các bác sĩ thuộc đủ mọi quốc tịch – có Đức Tin hay không Đức Tin – đều không thể nào giải thích được. Vậy anh nghĩ sao?

Bác sĩ Alexis Carrel vẫn ngoan cố trả lời:

– Chuyện không thể nào xảy ra được! Chắc chắn là các cuộc khám nghiệm không thi hành nghiêm chỉnh: trước, trong khi, và sau khi khỏi bệnh! Cho tới giờ phút này, các phép lạ chưa được nghiên cứu một cách khoa học. Ngoài ra, chấp nhận phép lạ tức là chấp nhận sự kiện một cách ngu xuẩn, bởi vì, luật lệ thiên nhiên bất biến .. Tuy nhiên, trước một sự kiện tỏ tường, chắc chắn người ta bị bó buộc phải công nhận. Do đó, nếu tôi tận mắt chứng kiến một sự kiện, hẳn tôi sẽ cúi đầu chấp nhận!

Thách thức của bác sĩ Alexis Carrel được chính Đức Mẹ Lộ Đức trả lời.

Trong chuyến hành hương, bác sĩ Carrel được giao nhiệm vụ chăm sóc cách riêng một nữ bệnh nhân tên Marie Ferrand, 24 tuổi. Cô bị bệnh lao phổi ở thời kỳ chót và mắc thêm chứng bệnh sưng màng bụng đau đớn. Các bác sĩ bó tay và cô nằm chờ chết. Nhưng cô có nguyện vọng sau cùng là hành hương Lộ Đức. Lời van nài của cô được chấp thuận.

Chuyến đi càng làm cho bệnh tình cô nặng thêm. Khi đến Lộ Đức thì hầu như cô chỉ còn thoi thóp thở. Bác sĩ Carrel đặc biệt chăm sóc cô và ông thấy rõ cô có thể tắt thở bất cứ lúc nào. Ông nói với bác sĩ bạn:

– Nếu cô này khỏi bệnh thì thật là phép lạ! Lúc đó tôi sẽ tin và sẽ cắt tóc đi tu làm thầy dòng!

Người ta định mang cô Marie Ferrand xuống hồ tắm, nhưng vì bệnh tình quá trầm trọng, người ta chỉ dùng nước suối Lộ Đức thoa rửa trên người cô. Bác sĩ Carrel luôn luôn đứng bên cạnh cô. Ông thầm thì:

– Ôi ước gì con được giống như những tín hữu Công Giáo đáng thương, biết tin tưởng vào quyền lực chữa trị của nước suối Đức Mẹ! Xin Mẹ chữa lành thanh nữ này vì cô quá đau đớn. Xin Mẹ cho cô sống thêm thời gian nữa và xin cho con có được Đức Tin!

Bỗng chốc, bác sĩ Alexis Carrel trông thấy rõ ràng bệnh nhân hồi sinh. Gương mặt cô gái từ từ trở nên hồng hào. Nhịp mạch, nhịp tim đập trở nên bình thường. Cái bụng phình to tướng đang từ từ xẹp xuống. Hiện tượng lạ lùng đó diễn ra trong vòng 20 phút. Đúng 3 giờ chiều, cô Marie Ferrand nói lớn tiếng:

– Con đã được khỏi bệnh!

Người ta mang đến cho cô một ly sữa, cô cầm lấy và uống như một người bình thường.

Trước sự kiện hiển nhiên đó, bác sĩ Alexis Carrel đành chấp nhận:

– Một hiện tượng bất ngờ – không thể nào xảy ra – đã thực sự xảy ra!

Từ sau phép lạ tại Lộ Đức năm 1903 đó, bác sĩ Alexis Carrel từ từ trở về với Đức Tin Công Giáo và qua đời vào năm 1944.

Lúc sinh thời, bác sĩ Alexis Carrel đã tiến cao trên đài danh vọng, đã lãnh giải thưởng Nobel y khoa năm 1912. Nhưng khi chết, ông đã tắt thở trong Đức Tin đơn sơ của một đứa trẻ. Quả thật, hạnh phúc thay người có Đức Tin!

http://www.conggiao.org/on-me-ban-02-phep-la-lo-duc-va-bac-si-alexis-carrel/

Hình ảnh bức tượng Đức mẹ Đồng trinh liên tục nhỏ "nước mắt" trong một nhà thờ tại Danli, Honduras, khiến nhiều người đi lễ kinh ngạc.
Theo Mirror, người đi lễ lần đầu tiên chứng kiến hiện tượng lạ xảy ra với tượng Đức mẹ Đồng trinh ở nhà thờ Santiago trong khuôn viên Đại học Thiên Chúa giáo Honduras vào cuối tuần trước.

Trong video do người đi lễ quay được, những giọt nước tràn ra ở mắt bức tượng trước khi lăn xuống má và được linh mục Lopez lau bằng khăn giấy.

Linh mục Juan Angel Lopez khẳng định cảnh bức tượng "khóc" chắc chắn không phải là giả, nhưng ông không rõ nguyên nhân dẫn đến sự việc khác thường này.

Linh mục Lopez, là linh mục ở nhà thờ Iglesia Santo Domingo Savio tại thành phố Tegucigalpa gần đó, cho biết ông đã tận mắt quan sát tượng Đức mẹ Đồng trinh trong sân St James ở El Paraiso của trường đại học.

"Tôi cho rằng không có sự giả mạo bởi tôi biết những người điều hành nhà thờ Santiago. Tôi biết rõ sự nghiêm túc của người quay video và họ sẽ không làm giả việc tượng khóc", Lopez nói.

Theo: http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/chuyen-la/tuong-duc-me-dong-trinh-nho-nuoc-mat-o-honduras-3461022.html

Báo chí Malaysia từng đưa tin, tại một gia đình Công giáo ở Malaysia, một bức tượng cao khoảng 33 cm của Đức Mẹ Maria được đặt tại đây, bức tượng Đức Mẹ đã rơi lệ 3 lần chỉ trong vòng một tuần, rất nhiều tín đồ từ các nơi đã đổ xô đến đây để được chứng kiến tận mắt “bức tượng Đức Mẹ khóc.”
Lúc 5 giờ chiều ngày 2/3 con trai út lần đầu tiên phát hiện ra bức tượng rơi lệ, sau đó đúng 2 ngày vào lúc 5h chiều họ lại nhìn thấy những giọt nước mắt từ đôi mắt của Đức Mẹ, phép lạ lại xảy ra vào lúc 10h sáng ngày mồng 5, bức tượng của Đức Trinh Nữ Maria trong vòng một tuần đã rơi lệ 3 lần.

Chủ nhà Mike 52 tuổi nói: “Tôi hoàn toàn không thể tin được, cho đến khi được chứng kiến ​​tận mắt tượng Đức Mẹ thực sự rơi lệ, điều này khiến tôi kinh ngạc, bởi tôi không bao giờ nghĩ điều này sẽ xảy ra.”

Sau khi phép lạ xảy ra này được các trang mạng truyền tải đã làm dấy lên các cuộc tranh luận sôi nổi, hàng trăm người dân vì để chứng kiến tận mắt “tượng Đức Mẹ Maria khóc ” đã xếp hàng từ sáng sớm trước cửa nhà của người sở hữu và tụng kinh cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ.

Theo: http://www.daikynguyenvn.com/tin-giai-tri/chuyen-la/tuong-duc-me-roi-le-moi-nguoi-do-xo-den-chiem-nguong-giot-nuoc-mat-ngoc-trai.html

  
Suốt 18 tháng qua, bức tượng Đức mẹ đồng trinh Maria trong nhà của một phụ nữ sống tại California, Mỹ liên tục rơi nước mắt, khiến nhiều người cảm thấy kỳ lạ. Theo chủ nhà, hiện tượng này xảy ra ngay sau khi cô em họ trong nhà bị sát hại.

Maria Cardenas là chủ nhân của ngôi nhà, cô cho biết, bức tượng là món quà được tặng nhân Ngày của Mẹ từ 10 năm trước. Cô không hiểu lý do vì sao bức tượng khóc, nhưng cô tin rằng điều này có liên quan đến vụ em họ Jessie Lopez của cô bị sát hại.

Kể từ khi Lopez qua đời, mắt phải của bức tượng bắt đầu “nhỏ lệ” mỗi ngày. Cardenas tin rằng đây là phép lạ, cô lấy cốc hứng nước mắt và sẵn sàng chia sẻ với những người khách đến thăm nhà.

Cardenas cho biết thỉnh thoảng bức tượng lại ngừng khóc trong vài tuần hoặc vài tháng, rồi lại khóc trở lại. Từ đó đến nay, nhiều linh mục và người mộ đạo, cũng như người hiếu kỳ đã đến tham quan bức tượng.

Richard Quintana, một người hàng xóm được Cardenas mời đến nhà nhìn ngắm bức tượng. “Thật tuyệt vời. Tôi chỉ biết há hốc mồm ngạc nhiên”, Quintana nói.

“Linh mục nhiều nơi cũng tới nhìn và đều nói rằng đó là phép lạ”, người được Cardenas thuê để trông nom bức tượng nói. “Chúng tôi không muốn giấu bà (bức tượng) đi, nhưng cũng không muốn có chuyện bất trắc xảy ra với bà”.

Phóng viên kênh truyền hình KFSN-TV cũng đến nhà Cardenas và chứng kiến một giọt nước mắt rơi xuống từ khuôn mặt bức tượng.

“Nó hơi nhờn và có mùi như hoa hồng”, kênh này đưa tin, “một giọt vừa rơi là giọt khác lập tức chảy xuống”.

Tin tức này gây xôn xao trên nhiều trang mạng xã hội. Một số người ca ngợi đó là dấu hiệu của Chúa, một số khác cho rằng không phải.

“Đã đến lúc sửa lại mái nhà dột rồi”, một người dùng mạng Facebook chia sẻ.

Vài năm gần đây, báo chí thường đưa tin về hiện tượng các bức tượng tôn giáo khóc ra nước mắt hoặc khóc ra máu.

Tháng 5/2015, có tin về một bức tranh vẽ Đức mẹ Maria xuất hiện vết máu ở Philippines, hoặc tượng Đức mẹ khóc ở Malaysia. Quan chức địa phương cho biết họ chờ chỉ đạo từ tòa thánh Vatican trước khi đưa ra bất kỳ lời giải thích nào về “phép lạ” này.

Theo: http://tinhhoa.net/ly-ky-tuong-duc-me-dong-trinh-o-my-khoc-rong-18-thang.html

Đức Mẹ ban "phép lạ" tại Trà Cú, Sóc Trăng, VN.
Lạy Chúa con là người ngoại đạo,

Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Ngay từ khi còn nhỏ tôi đã thích hai câu thơ trên, vì tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình theo đạo Phật, bố mẹ tôi rất sùng đạo. Nhưng không hiểu vì một sự mầu nhiệm nào khiến tôi lại thích đạo công giáo. Khi mới bốn tuổi tôi đã được theo chị vú nuôi đi nhà thờ vào mỗi chiều Chúa Nhật. Hình ảnh ngôi giáo đường cổ kính, hình ảnh Chúa Giêsu đóng đinh trên thập giá và hình ảnh Đức Mẹ đẹp dịu hiền, tay lúc nào cũng cầm sâu chuỗi đã in sâu vào tiềm thức của tôi.

Càng lớn lên tôi lại càng thích tìm hiểu về đạo Chúa nhiều hơn, vì thế tôi thích quen thân với những người bạn có đạo. Tôi say mê nghe tiếng chuông giáo đường ngân vang mỗi buổi chiều, thích đeo ảnh tượng Chúa và Đức Mẹ, thích đọc kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và thích nhất là mỗi lần được tham dự thánh lễ hôn phối trong nhà thờ. Hình ảnh cô dâu chú rể nắm tay nhau, trao nhẫn cưới cho nhau, nói lên những lời thề nguyền sắt son trước cung thánh, đối với tôi thật tuyệt đẹp và tôi bắt đầu có những mơ ước thầm kín.

Rồi như có sự sắp đặt của Thiên Chúa, lớn lên tôi đã gặp và yêu một người có đạo. Nhưng tình yêu của chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn trở ngại về vấn đề tôn giáo, vì bố mẹ tôi không chấp thuận và đã nhiều lần ép gả tôi cho người ngoại đạo. Tôi chỉ còn biết liên lỉ cầu nguyện đêm ngày, trông cậy vào tình thương của Chúa và Mẹ Maria.

Sau hơn sáu năm chờ đợi, tôi đã được Chúa Mẹ nhậm lời nên bố mẹ tôi đã chấp thuận cho tôi được kết hôn với người mình yêu, nhưng với điều kiện tôi không được rửa tội theo đạo cũng như không được làm phép hôn phối trong nhà thờ, phải đợi đến ngày bố tôi khuất bóng.

Cuối năm 1974 bố tôi qua đời và trong khi tôi đang học đạo để chuẩn bị rửa tội thì biến cố 30-4 1975 ập đến. Chúng tôi theo lời khuyên của một người bạn, di chuyển về quê của anh tại họ đạo Trà cú, thuộc tỉnh Sóc Trăng, với hy vọng không ai biết được lý lịch của mình.

Họ đạo Trà Cú từ trước nổi tiếng là một họ đạo chống Cộng triệt để, vì thế mặc dù đã bị Việt cộng tiếp quản nhưng họ rất e ngại không giám dùng biện pháp mạnh đối với họ đạo này.

Về đến nơi, chúng tôi xuất trình giấy tờ với nhà cầm quyền địa phương, và đã được họ cho dạy học tại trường trung học Long Tân. Trường toạ lạc ngay trong khuôn viên nhà thờ thuộc họ đạo Trà Cú. 

Sau khi đời sống đã tạm ổn định, chúng tôi đã xin cha sở để tôi được học đạo chuẩn bị rửa tội và chúng tôi được làm phép hôn phối. Nhưng nhiều lần cha sở khuyên chúng tôi hãy thong thả vì giữa buổi giao thời giữa hai chế độ và nhất là chế độ Công Sản không có cảm tình với đạo Thiên Chúa, nếu tôi rửa tội và làm phép hôn phối ngay lúc đó thì e rằng gia đình chúng tôi sẽ gặp nhiều khó khăn. Nhưng tôi quyết tâm xin cha chánh xứ cho tôi được học đạo và rửa tội rồi việc gì xảy đến tôi cũng xin chấp nhận.

Hằng tuần đi nhà thờ và nhất là mỗi buổi sáng được nghe tiếng chuông vang vọng từ một ngôi thánh đường cổ kính, lòng tôi lại nôn nao mong chóng đến ngày được rửa tội.

Niềm mơ ước của tôi đã được thực hiện. Đêm Phục Sinh 1976 tôi đã được rửa tội, lãnh phép thêm sức và chúng tôi đã được làm phép hôn phối trước sự tham dự của cả ngàn giáo dân trong họ đạo.

Hai tuần sau khi được rửa tội thì Việt Cộng đến gặp chúng tôi, yêu cầu chúng tôi phải bỏ đạo vì chúng tôi là giáo chức, tức là công nhân viên của nhà nước thì phải theo thuyết duy vật, không được theo thuyết duy tâm.

Sau nhiều lần thuyết phục chúng tôi không được, nên gần hai tháng sau thì Việt cộng ập vào nhà chúng tôi, đọc án lệnh kết tội chồng tôi là C.I.A cho Mỹ, trà trộn vào họ đạo để tổ chức và móc nối đưa người vào bưng chống phá cách mạng, rồi chúng trói bắt chồng tôi đem đi.

Hoàn cảnh của tôi lúc bấy giờ thật bi đát. Lúc đó tôi đang bị bệnh, trong nhà chỉ còn vỏn vẹn mười lăm đồng bạc. Ba đứa con của tôi thì còn quá nhỏ dại: đứa lớn nhất mười tuổi, đứa thứ nhì bảy tuổi, thứ ba ba tuổi. Sống giữa nơi xứ lạ quê người, không bà con ruột thịt để nương tựa, tôi lại không có tin tức gì của chồng tôi, thật tôi không chết được mà phải sống.

Tôi chỉ còn biết trông cậy và phó thác vào Chúa và Mẹ Maria. Hình ảnh Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá đã an ủi và nuôi dưỡng tôi rất nhiều vì tôi nghĩ rằng: Chúa mà còn chịu đau khổ, nhục nhã và cuối cùng còn bị đóng đinh và chết trên thập giá để chuộc tôi cho nhân loại, trong đó có tội của tôi và gia đình tôi, thì tôi là con cái của Chúa lại không thể vác thánh giá ở đời này hay sao ? Tôi nhớ lời Chúa đã phán: ‘’Ai muốn theo Ta thì vác thánh giá mà theo Ta.’’( Luca 14:27) Hơn nữa, tôi nghĩ theo Chúa không phải là là theo con đường vinh quang hạnh phúc mà phải còn theo con đường khổ nạn của Chúa nữa. Nhờ vậy tôi đã có đủ nghị lực và can đảm để vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Chúa Mẹ đã thương tôi nên đã cho tôi có một cuộc sống khá đầy đủ để tôi có thể tiếp tế cho chồng tôi ở trong tù và nuôi ba đứa con còn nhỏ dại.

Trong thời gian chồng tôi ở tù, tôi vẫn được tiếp tục dạy học tại trường trung học Long Tân và tôi đã được chứng kiến một biến cố vô cùng quan trọng đã xảy ra tại họ đạo Trà Cú. Đó là: Đức Mẹ ban phép lạ chữa cho một cô bé tật nguyền được trở lại đi đứng bình thường.

Hàng tuần đi dự lễ ngày Chúa Nhật, tôi thường thấy một cô bé khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, da ngâm đen, tóc ngang vai, dáng cục mịch quê mùa. Em bị liệt hai chân vì bị sốt tê liệt hồi em lên hai tuổi. Em phải đi nạng, mỗi lần lên rước lễ mẹ em và chị của em phải dìu em đi rất vất vả khó khăn. 

Tôi thấy cô bé tật nguyền đi lại khó khăn như vậy nhưng vẫn chịu khó đi nhà thờ, không hề vắng mặt một tuần nào. Tôi tìm hiểu về em và được biết tên em là Trần thị Hữu. Cha em là một người ngoại đạo, đã rửa tội để được cưới mẹ em, nhưng sau đó vài năm ông bỏ đạo. Nhiều lần cha em định đem em đi chữa bằng phương pháp bùa phép nhưng em phản đối và nói với cha mẹ em rằng: Đức Mẹ đã hiện về với em và hứa sẽ chữa cho em đi được, vì thế em chỉ cần ở nhà cầu nguyện, nhất định không chịu chữa trị bằng phương pháp nào khác.

Bẵng đi một thời gian tôi không thấy em đến nhà thờ nữa, tôi được chị hàng xóm cho biết em đã bị đau, không ngồi dạy được, tê liệt hoàn toàn, suốt đêm ngày chỉ nằm trên giường, em ăn rất ít mà chỉ uống nước phép của đền thờ Đức Mẹ Lộ Đức, nhưng em vẫn tươi tỉnh hồng hào.

Hằng ngày bà con lối xóm và bạn bè đến thăm đều được em thuật lại cho nghe những lần Đức Mẹ hiện ra với em. Điều làm mọi người chú ý và nhớ nhất là Đức Mẹ hứa sẽ chữa cho em đi được vào dịp Lễ Phục Sinh 1977. Tin này được loan đi rất nhanh khắp mọi nơi và người đến thăm em càng ngày càng đông.

Riêng tôi vì cuộc sống quá khó khăn, hơn nữa nhà tôi và nhà em cách xa nhau cả hai cây số nên tôi không đến thăm em được.

Ngày tháng cứ đều đặn trôi qua và Mùa Phục sinh nữa lại đến, mọi người nôn nao chờ đợi. Tuy sống trong chế độ Cộng Sản nhưng họ đạo Trà Cú vẫn tổ chức Lễ Phục Sinh rất rầm rộ. Các cổng chào đều được dựng lên trước một tuần lễ, từ cổng nhà thờ đến nhà thờ đèn điện sáng chưng, bông hoa rực rỡ, người người lũ lượt đi dự lễ, quần áo đủ mầu sắc, quang cảnh thật tưng bừng náo nhiệt, khiến mọi người có cảm tưởng như đang sống trong chế độ cũ.

Tất cả mọi người không ai bảo ai đều chú ý tìm kiếm xem trong đám người đi dự lễ có em Hữu hay không. Nhưng ai nấy đều hết sức thất vọng vì được mẹ em Hữu cho biết em vẫn nằm trơ như một cây gỗ. Sau lễ, một số người về nhà em để thăm em và em vẫn nằm trên giường tiếp chuyện mọi người như thường lệ. Trong số những người đến thăm em có chị Nhan là người đã may tặng em chiếc áo dài soa Pháp màu xanh như màu áo của Đức Mẹ và một chiếc quần trắng để nếu Đức Mẹ chữa cho em khỏi chân, em sẽ mặc áo đó đi dự lễ Phục Sinh. Qua lễ rồi em vẫn còn nằm trên giường, chị Nhan hỏi em:

- Đức Mẹ hứa với em đến Lễ Phục Sinh sẽ ban phép lạ cho em và em sẽ đi được, sao bây giờ em vẫn còn nằm thế này ?

Em Hữu chỉ mỉm cười không nói gì. Khoảng hai giờ sáng một số người nản lòng đã bỏ ra về, chỉ còn chị Nhan và một vài người ở lại. Khi đang nói chuyện với nhau, bỗng dưng em Hữu ngồi phắt dạy, chỉ lên bàn thờ và nói: 

-Thắp đèn cầy lên, Đức Mẹ đã hiện ra đó. 

Em vừa nói vừa bước ra khỏi giường, đến bàn thờ, tự em thắp đèn nến. Mọi người thấy vậy sợ quá chạy toán loạn, kẻ chạy ra sau bếp, người chạy đi loan báo cho bà con hàng xóm. Có người chạy vội vàng trật cả mắt cá chân.

Em đòi mời mẹ đỡ đầu của em đến, viết tên thánh vào người em và mời cha mẹ của em đến để nghe Đức Mẹ dạy.

Đức Mẹ hỏi cha mẹ em có bằng lòng dâng con cho Đức Mẹ không ? Với giọng run run vì quá cảm động và sợ hãi, cha em thưa với Đức mẹ:

- Kính Đức Mẹ, con phải dâng con của con như thế nào, con sẽ cho con của con đi tu dòng con Đức Mẹ hay như thế nào, xin Đức Mẹ chỉ dạy.

Đức Mẹ phán:

- Bất cứ lúc nào và bất cứ cách nào khi Đức Mẹ cần đến.

Và Đức Mẹ cũng nói với những người có mặt tại đó:

- Các con phải chịu khó đi đọc kinh và lần hạt Mân Côi.

Chỉ chưa đầy một giờ sau nhà em Hữu đã chật ních người, đứng vòng trong, vòng ngoài. 

Đêm hôm đó vì ở xa, tôi không được biết để đến nhà em Hữu chứng kiến Đức Mẹ hiện ra ban phép lạ cho em. Nhưng sáng hôm sau thì tôi gặp em trên đường đi đến nhà thờ. Sau hơn một năm gặp lại em, tôi hết sức ngạc nhiên vì em xinh đẹp hơn trước nhiều, ngoài sức tưởng tượng của tôi. Em không còn là cô bé Hữu quê mùa của một năm về trước. Không những em đi đứng bình thường như mọi người, em còn thay đổi hẳn vóc dáng; khuôn mặt bầu bĩnh với cặp mắt đen lánh, da trắng tươi, hai má ửng hồng, môi mọng đỏ, mái tóc huyền phủ kín bờ vai. Dáng người thon thon trong chiếc áo dài xanh tha thướt uyển chuyển. Vẻ đẹp của em bây giờ là vẻ đẹp của một thiếu nữ tỉnh thành sang trọng quí phái.

Tôi đi bên em và hỏi em về việc Đức Mẹ ban phép lạ cho em đêm hôm trước. Với giọng hết sức nhỏ nhẹ, em nắm tay tôi kể cho tôi nghe và dặn tôi:

- Chị nhớ cầu nguyện cho em nhé !

Như có một sự sắp đặt của Thiên Chúa, buổi lễ hôm đó có ba cha đồng tế, và em Hữu là người lên rước lễ đầu tiên. Cha sở Nguyễn Mạnh Đồng trao mình Thánh Chúa cho em mà vẫn không biết đó là cô bé Hữu đã từng chống nạng mỗi khi lên rước lễ trước đây.

Sau thánh lễ, em và gia đình em vào thăm cha sở, khi đó các cha mới hay. Cả ba cha đều hỏi chuyện em và nhìn nhau với ánh mắt chan hoà niềm vui.

Ba tháng sau, em Hữu đã được Chúa gọi về một cách đột ngột như Đức Mẹ đã bất ngờ hiện ra ban phép lạ cho em, trước sự bàng hoàng của mọi người.

Được tin đó tôi đã đến viếng em. Lại một lần nữa tôi vô cùng ngạc nhiên vì khi em đã tắt thở một ngày một đêm nhưng nét mặt vẫn tươi đẹp như hồi em còn sống, không nhợt nhạt như nét mặt của một người đã chết.

Đám tang em Hữu được tổ chức vô cùng trọng thể và thi hài em được an táng vào phần đất đặc biệt ngay sau nhà thờ Trà Cú. Tiếng chuông nhà thờ Trà Cú đã ngân vang hồi vĩnh biệt để tiễn đưa linh hồn Maria Trần thị Hữu về Nước Chúa.

Riêng gia đình tôi sau sáu năm thử thách, Chúa Mẹ lại ban cho một phép lạ nữa là cả gia đình tôi đã đến được bến bờ tự do, không tốn một đồng bạc.

Giờ đây gia đình chúng tôi đã có được một đời sống ổn định. Chúng tôi muôn vàn cảm tạ Thiên Chúa và Mẹ Maria.

(Dziễm Hoàn ghi lại)
http://www.kinhmungmaria.com/yahoo_site_admin/assets/docs/15-suladucmetracu.3152718.html

(Ảnh chụp tại Nhà thờ Công Giáo Chúa Hài Đồng, Mexico) 
Mẹ thì vậy còn chúng ta thì sao?
NẾU Ở TRÊN THIÊN ĐÀNG CÓ THỂ ĐAU KHỔ ĐƯỢC, ẮT MẸ SẼ ĐAU KHỔ BIẾT BAO KHI NHÌN THẤY NHỮNG VIỆC HIỆP LỄ PHẠM THÁNH, HOẶC CỬ CHỈ BẤT KÍNH! CON HÃY KHÓC LÓC VÌ NHỮNG CƯ XỬ TỆ BẠC NGƯỜI TA PHẠM ĐẾN THÁNH THỂ, NHẤT LÀ CON HÃY BẮT CHƯỚC MẸ MÀ TÔN THỜ THÁNH THỂ CHÚA.
Phép lạ
" Hỡi con, khi ở trên trời, Thiên Chúa ban cho Mẹ tước hiệu Mẹ Giáo Hội, Người đã cho Mẹ được thông phần hơn nữa vào tình yêu vô cùng của Người đối với con cháu Adong. Đối với những linh hồn được vào Giáo Hội hay được vào Thiên đàng, Mẹ cũng sung sướng ngây ngất tạ ơn đến nỗi chết được. Cả khi Mẹ xin cho tội nhân trở lại hay khi thấy có một tín hữu nào phải hư mất cũng thế. Lúc đó, thật Mẹ đau đớn hơn tất cả các vị tử đạo. Biết bao lần, Mẹ đã tự hiến dâng mạng sống của Mẹ cho loài người!

Căn cứ vào đó, con xét xem tình yêu Mẹ đối với Chúa phải mạnh mẽ dường nào khi Người đến với Mẹ qua việc hiệp lễ.

Thế nên, nếu ở trên thiên đàng có thể đau khổ được, ắt Mẹ sẽ đau khổ biết bao khi nhìn thấy những việc hiệp lễ phạm thánh, hoặc cử chỉ bất kính! Con hãy khóc lóc vì những cư xử tệ bạc người ta phạm đến Thánh Thể, nhất là con hãy bắt chước Mẹ mà tôn thờ Thánh Thể Chúa.

Muốn được ơn khích lệ, con nên biết rằng sau khi hình bánh và rượu tiêu tan đi, Chúa Giêsu cũng vẫn còn đặc biệt ở lại trong linh hồn rước Người, sau khi họ đã dọn mình sốt sắng. Người ở trong họ trợ giúp họ, hướng dẫn họ, làm giầu cho họ. Vì thế con hãy cố gắng hồi tâm trầm lặng trước và sau khi rước Người. Để được thế, con hãy che kín mắt con lại, hãy canh giữ giác quan con, đừng đem vào nhà thờ Chúa một hình ảnh phàm tục nào.

Sau hết, Mẹ chấp nhận cho con được tôn kính trong phép Thánh Thể phần Mình và Máu mà Con Mẹ đã mặc lấy bởi Mẹ khi làm Người và Mẹ đã nuôi bằng sữa Mẹ cho lớn lên, phần Mình Máu ấy vẫn còn được duy trì trong Thánh Thể. Con hãy tiếp tục sùng kính như vậy, vì thực sự có một phần bản thể của Mẹ trong Bánh Thánh đã thánh hiến."
Mẹ như mặt trời
(Trích Thần Đô Huyền Nhiệm)

Theo nguồn tin từ Trang báo điện tử Vnexpress – Bức tượng Đức mẹ đồng trinh Mary đặt tại ban thờ của một ngôi nhà ở bang Sabah, Malaysia, được cho là đang nhỏ lệ, thu hút rất đông khách tới thăm mỗi ngày.
Tượng Đức mẹ đồng trinh Mary được cho là đang khóc tại nhà ông Michael George ở huyện Penampang, thuộc bang Sabah, Malaysia.

Chủ nhà Michael George, 52 tuổi, cho biết bức tượng bắt đầu “khóc” từ tối thứ hai, 2/3. Theo ông Michael, cậu con trai lớn 14 tuổi của ông là người đầu tiên phát hiện ra những giọt nước mắt trên tượng lúc khoảng 17h chiều cùng ngày.

“Tôi không tin cho tới khi tận mắt trông thấy nước mắt. Tôi hết sức kinh ngạc vì chưa bao giờ nghĩ điều gì tương tự thế xảy ra. Tôi cảm giác đây là điều kỳ diệu”, ông Michael nói.

Chủ nhà cho hay những giọt nước mắt cũng xuất hiện vào khoảng 10h sáng 5/3. Cách đây một năm, chị dâu ông Michael mua bức tượng trong chuyến tham quan Philippines. Tuy nhiên, tượng chưa được đưa về nhà ông Michael luôn vì thời điểm ấy nhà ông đang sửa.

“Mới gần đây, chúng tôi mới mang tượng về nhà mình. Tượng được giám mục John Wong (người đứng đầu nhà thờ Thiên chúa Sabah ở bang Sabah) ban phúc”, ông Michael kể.

Người dân kéo đến cầu nguyện và chụp ảnh bức tượng biết “khóc”. Ảnh: The Star.

Ông Michael đã thông báo với một số người thân trong gia đình về hiện tượng kỳ lạ này. Tin tức về tượng Đức mẹ đồng trinh Mary biết khóc cao 33 cm lan nhanh sau đó trên các mạng xã hội. Hàng ngày, có ít nhất 100 người tới nhà ông Michael đọc kinh, cầu nguyện trước tượng.

Giới chức nhà thờ địa phương cũng được thông báo về hiện tượng trên và sẽ tới thăm gia đình ông Michael cùng bức tượng vào hôm nay.

Phạm Khoa

NGHE RADIO CÔNG GIÁO

SỨ ĐIỆP

complex{fbig2}/Su Diep Chua Giesu,Su Diep Chua Cha,Su Diep Duc Me

SỐNG ĐẠO

complex{fbig2}/Song Dao,Cac Thanh,Guong Sang,Cau Nguyen

ĐIỀM BÁO

complex{fbig2}/Dau Chi Thoi Dai,Dau Hieu Thoi Cuoi,Diem Bao

GIÁO HỘI

complex{fbig2}/Tin Giao Hoi,Vatican,Giao Hoang

CHIA SẺ

complex{fbig2}/Suy Tu,Chia Se,Suu Tam

ĐỜI SỐNG

complex{fbig2}/Tong Hop, Suc Khoe, Doi Song

NGHE

complex{fbig2}/Audio, Bai Giang, Am Nhac

XEM

complex{fbig2}/Video, Thanh Ca,

ẢNH

[Duc Giao Hoang][gallery2]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.