Bài Viết by "Phụng Vụ Chư Thánh"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phụng Vụ Chư Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Ngày 29 tháng 9

Thiên Thần là sứ giả được Chúa sai đi để phục vụ công trình của Chúa và phục vụ con người mà Chúa yêu thương.
Micae có nghĩa là "Ai bằng Thiên Chúa". Thánh Micae đã chống lại thần dữ để bênh vực quyền tối cao của Thiên Chúa. Giáo Hội nhận thánh Micae như Ðấng bảo trợ và tin rằng ngài vẫn dâng lời cầu nguyện của chúng ta lên ngai tòa Chúa. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae cũng đã hiện ra với nhiều người, đặc biệt năm 708, ngài hiện ra với Ðức Giám Mục thành Arranche và Ðức Giám Mục đã xây một thánh đường nguy nga để kính dâng Ðức Micae tại Mont Saint Michel.
Gabrie có nghĩa là "Uy lực của Thiên Chúa" cũng còn gọi là "Sứ Thần truyền tin". Ngài luôn can thiệp vào những sứ mạng liên quan đến việc cứu rỗi loài người. Chính ngài đã báo cho tiên tri Ðaniel thời đại xuất hiện của Ðấng Cứu Thế và là sứ giả được phái đến cùng với Trinh Nữ Maria để loan báo ý định của Thiên Chúa, và cũng chính là người đã nhiều lần hiện ra với thánh Giuse.

Raphae có nghĩa là "Thầy thuốc của Thiên Chúa". Chúng ta biết danh hiệu của Tổng Lãnh Thiên Thần này qua những trang sách Tôbia. Chính ngài đã được Thiên Chúa sai đến giúp đỡ gia đình ông trong cơn hoạn nạn. Ngài đã giúp ông đòi được nợ, chữa ông khỏi mù và lo cho con ông được yên bề gia thất.



KINH CẦU CÙNG TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE
Lạy ơn Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, xin giúp chúng con trong cơn giao chiến, đánh phá sự hiểm ác mưu sâu quỉ dữ. Chúng con sấp mình nguyện xin Chúa chế trị nó cùng xin nguyên soái cơ bình trên trời lấy quyền phép Chúa mà hạ Satan cùng các quỉ dữ đang rong ruổi khắp thế làm hại các linh hồn bắt chúng giam cầm trong hỏa ngục. Amen 

KINH TỔNG LÃNH THIÊN THẦN GABRIE 
Lạy Thiên Chúa, Người là Đấng ngự giữa các Thiên Thần của Ngài, Chúa đã chọn Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie làm sứ thần mang tin cho sự cứu rỗi, xin thương xót chúng con để chúng con được kính nhớ Người luôn trên trần thế, và sau này cho chúng con cũng được hạnh phúc với Người trên Thiên Đàng vì Chúa là Đấng Hằng Sống, hằng trị muôn đời. Amen 

KINH TỔNG LÃNH THIÊN THẦN RAPHAE 
Lạy Thiên Chúa, xin sai Tổng Lãnh Thiên Thần Raphae xuống phù giúp chúng con. Xin Người là đấng chầu trước nhan thánh Chúa, dâng những lời nguyện cầu của chúng con lên Chúa, nhân danh Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen 

KINH THIÊN THẦN BẢN MỆNH 
Thiên Thần của Chúa là Thiên Thần Bản Mệnh yêu dấu của con. Nơi Ngài tình yêu của Chúa được ban cho con. Mỗi ngày, xin Ngài hãy ở cạnh bên con để soi sáng và canh giữ, để điều khiển và hướng dẫn con. Amen.

Hạnh Các Thánh
Thánh Basil Cả
(329 - 379)

Thánh Basil đang là một thầy giáo nổi tiếng thì ngài quyết định theo đuổi đời sống tu trì nghèo hèn của Phúc Âm. Sau khi tìm hiểu các phương thức tu trì, có thể nói ngài là người sáng lập đan viện đầu tiên ở Tiểu Á. Ngài nổi tiếng đối với các vị ẩn tu Ðông Phương cũng như Thánh Benedict nổi tiếng ở Tây Phương, và quy luật ngài viết đã ảnh hưởng đến đời sống đan viện Ðông Phương mãi cho đến ngày nay.

 Sau khi thụ phong linh mục, ngài phụ tá cho Ðức Tổng Giám Mục của Caesarea (bây giờ là vùng đông nam Thổ Nhĩ Kỳ) và sau cùng chính ngài trở thành tổng giám mục, bất kể sự chống đối của các giám mục phó, có lẽ vì ngài đã nhìn thấy những canh tân cần thiết. Trong nhiệm vụ của một tổng giám mục, ngài siêng năng học hỏi và làm việc liên lỉ. Ðiều này giúp ngài được gọi là "Vĩ đại" ngay trong thời của ngài và là Tiến Sĩ Hội Thánh sau khi ngài chết.

Vào thời ấy, một trong những nguy hại nặng nề cho Giáo Hội là bè rối Arian, mà họ khước từ thiên tính của Ðức Kitô. Hoàng đế Valens bách hại đạo chính thống, và ép buộc Ðức Basil phải giữ im lặng và chấp nhận cho những người bè rối được rước lễ. Ðức Basil giữ vững lập trường, và Valens phải nhượng bộ. Nhưng khó khăn vẫn còn. Khi vị đại thánh Anthanasius từ trần, trách nhiệm che chở bảo vệ đức tin chống với bè rối Arian đổ xuống trên Ðức Basil. Ngài cố gắng khủng khiếp để kết hợp và phục hồi những người Công Giáo theo ngài đang bị tan nát vì sự bạo ngược và vì chia rẽ nội bộ. Có thể nói sự chiến thắng tà thuyết Arian trong Công Ðồng Nicene và việc lên án tà thuyết này trong Công Ðồng Constantinople năm 381-382, phần lớn là do công lao của ngài.

Ngài làm việc không biết mệt trong công việc mục vu, chống với nạn buôn thần bán thánh, giúp đỡ nạn nhân của hạn hán và đói kém, cố gắng thay đổi hàng giáo sĩ, nhấn mạnh đến tinh thần kỷ luật, ngài không sợ lên án những điều xấu xa một khi được nhận thấy, và ra vạ tuyệt thông những ai dính líu đến nạn mãi dâm ở Cappadocia.

Ðức Basil nổi tiếng là một nhà diễn thuyết. Các văn bản của ngài, dù thời ấy không nổi tiếng, đã đưa ngài lên hàng các bậc thầy của Giáo Hội. Bảy mươi hai năm sau khi ngài từ trần, Công Ðồng Chalcedon đã đề cập đến ngài là "Ðức Basil vĩ đại, người thừa tác ơn sủng đã dẫn giải chân lý cho toàn thể trái đất."

Lời Bàn

Như người Pháp thường nói, "Càng thay đổi bao nhiêu, họ càng giữ nguyên như vậy." Thánh Basil phải đối diện với các khó khăn giống như Kitô Hữu ngày nay. Bổn phận của một vị thánh là duy trì tinh thần Ðức Kitô trong những vấn đề thật đau khổ và phức tạp, như cải cách, tổ chức, chiến đấu cho người nghèo, duy trì sự quân bình và bình an khi bị hiểu lầm.

Lời Trích

Thánh Basil nói: "Thực phẩm mà bạn không dùng là thực phẩm của người đói; quần áo bạn treo trong tủ là quần áo của người trần truồng; giầy dép bạn không dùng là giầy dép của người chân không; tiền bạc bạn cất giữ là tiền bạc của người nghèo; hành động bác ái mà bạn không thi hành là những bất công mà bạn đã phạm."

Trích từ NguoiTinHuu.com

Thánh Gioan Tông Đồ

Lễ Thánh Gioan Tông Đồ
Ga 20, 2- 8

Thánh Gioan là vị tông đồ sống gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu Kitô, ngài đã yêu mến Chúa Giêsu từ ngày gặp Chúa và dành trọn cuộc đời cho việc rao truyền tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người.

Thánh Gioan đã chứng kiến nhiều phép lạ đặc biệt như: chữa con ông Giairô sống lại, Chúa Giêsu hiển dung trên núi Tabo có sự hiện diện của Môsê và Êlia… Ngài còn là vị tông đồ duy nhất theo sát Chúa Giêsu trên đường lên núi sọ và đứng dưới chân thập giá, đạI diện cho nhân loại nhận lời trối của Đức Giêsu: " … Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng : "Thưa Bà, đây là con Bà " rồi Người nói với môn đệ : " đây là Mẹ của anh …" (Gioan 19,26-27 ). Sau này, khi bà thánh Madalêna báo tin ngôi một trống thì chính thánh Gioan đã chạy đến mồ trước tiên cùng vớI thánh Phêrô. Ông đã thấy và đã tin. Trên thuyền đánh cá, thánh Gioan là người nhận ra Chúa Giêsu, người mình thương mến trước nhất. Sau này, Ngài tiếp tục sống trong mối liên hệ thân mật với Chúa Giêsu. Suốt đờI ngài suy niệm về tình thương của Thầy đối với nhân loại. Tin Mừng Thứ Tư là kết quả của những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời, hoạt động và lời mạc khải của Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu là Ngôi Lời vĩnh cửu đã bước vào thời gian để trở nên người phàm trong sự mỏng dòn yếu đuốI và chấp nhận đau khổ để cứu độ con người.

Đọc Tin Mừng theo thánh Gioan, chúng ta thấy Đức Giêsu chính là Sự Sáng đem lại Sự Sống đời đời cho nhân loại. Ngài là Ánh sáng soi cho trần gian biết đâu là đường chân lý để theo mà được sống tròn đầy. Thánh Gioan cho chúng ta thấy Đức Giêsu chính là Vị Mục tử đem lại sự sống cho đoàn chiên, Ngài là đường, là sự thật dẫn ta đến Chúa Cha là Đấng ban sự sống. Ai tin và thực hiện lời Đức Giêsu sẽ được sự sống đời đời. Thánh Gioan cũng viết các sách khải huyền và các thư cho các tín hữu. Đó là những lời nhắn nhủ của cho mọi người vững lòng cậy trông vào Chúa Giêsu Phục Sinh trong đời sống đạo thường ngày cũng như giữa những cơn bách hại khủng khiếp. Ngài nhắn nhủ mọi người dấn thân phục vụ Nước Chúa đến cùng để được sự sống đời đời làm gia nghiệp.

Thánh Gioan quả là vị tông đồ của yêu thương, suốt đời ngài minh chứng cho tình yêu của Chúa Giêsu đối với nhân loại. Xét về mức độ yêu mến Chúa. Thánh Gioan là người yêu mến Chúa hơn hết ngài chợt thấy một dấu chỉ nhỏ nhận ra thầy mình ( người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói vớI ông Phêrô : " Chúa đó !" (Ga 21, 7 ). Trong khi ngườI biệt phái thấy phép lạ cũng cố phủ nhận ; đứng trước một phép lạ buộc phảI công nhận, họ giảI thích là dùng phép quỉ để trừ trừ quỉ. Trong cuộc sống hàng ngày Chúa làm bao nhiêu là phép lạ ; cho muôn loài hơi thở để sống, hoạt động phát triển sinh sôi thật diệu kỳ nhưng có nhiều người chưa nhận ra sự hiện diện của Chúa. Hành động tử đạo của hàng trăm ngàn người ở Việt Nam và trên thế giới cũng chưa làm động lòng loài người trên thế giới. Có những người không tin vì không quan tâm tìm hiểu hay vì muốn giải thích phủ nhận các bằng chứng sống động nơi các thánh tử đạo, có thể một phần vì tôi chưa sống đúng lời dạy yêu thương của Chúa, còn làm phản chứng cho Chúa nên người lương dân chưa nhận biết Chúa. Thực ra, chúng con là những người tiếp nối công trình của các vị tử đạo, nhưng nhiều ngườI trong chúng con còn kém xa sự anh dũng và lòng nhiệt thành vì nước Chúa của các bậc tiền bối, chưa học được gương yêu thương của thánh Gioan, còn phàn nàn trước những thử thách Chúa gởi đến, chưa biết hy sinh bản thân và phó thác trong tay Chúa quan phòng, chưa biết cố gắng hết mình để nước Chúa được mọi người biết đến! Phải chi mỗi người chúng con biết nhận thức bổn phận của mình và đón lấy chân lý, tin yêu tuyệt đối vào đức Giêsu và tuân giữ lời Ngài trong Tin Mừng để được sống đời đời và đem trải rộng tình yêu Chúa trên khắp nhân loại.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy mở lòng chúng con ra để chúng con biết đón nhận ơn soi sáng của Chúa, biết dẹp đi những thành kiến, đón nhận chân lý và tình thương của Chúa hiến trao qua Giáo Hội Công Giáo, và nơi lương tâm của từng người chúng con.

Thánh Phanxicô Xaviê: Người biết ước muốn và nhận định

Philippe Lécrivain, S.J.[1]

Người dịch: Cosma Hoàng Văn Đạt, S.J. (Paris 8.10.2002)
Rạng sáng ngày 3.12.1552, cách nay đúng 450 năm, thánh Phanxicô Xavier đã qua đời trên đảo Thượng Xuyên, sát cửa biển tỉnh Quảng Đông của Trung Hoa. Lúc ấy, tay ngài đang cầm một cây nến cháy sáng, do một thanh niên Trung Hoa tên là Antonio, người bạn đồng hành duy nhất của ngài trao. Cả lục địa mênh mông trước mắt ngài sắp đón nhận ánh sáng của rạng đông. Khi được tin ở Rôma, cha Polanco, thư ký của thánh I-nhã, đã viết: ?Thiên Chúa nhân hậu (đã gợi lên nơi cha Phanxicô) những uớc muốn ấy để ngài được thêm công phúc, nhưng nhất là chính ngài đã muốn bắt chước Chúa Giêsu chết đi như một hạt lúa được gieo xuống đất, ngay cửa ngõ Trung Hoa, để những người khác đến gặt hái hoa quả dồi dào hơn?[2].Cái chết âm thầm lặng lẽ ấy chẳng bao lâu sẽ trở nên như một chuyện thần kỳ.

Nhưng chúng ta hãy tạm dừng lại ở đây để, theo gợi ý của cha Xavier Léon-Dufour[3] , dõi bước theo hành trình của thánh Phanxicô Xavier, đặc biệt ở ba thời điểm quan trọng nhất, tức là khi ngài rời Ấn Độ đi Maluku, đi Nhật Bản và đi Trung Hoa. Ba lần lên đường này có thể hiểu được dựa trên các kinh nghiệm thánh Phanxicô Xavier đã trải qua ở Paris và Rôma[4] , nhưng cũng đưa chúng ta vào những chiều sâu khác nữa. Lần thứ nhất đánh dấu một quyết định quan trọng; lần thứ hai ghi dấu một cuộc chiến đấu cam go; và lần thứ ba là cơ hội tự hiến đến trọn vẹn.

ĐI MALUKU [5]

Vì thánh Phanxicô Xavier không để lại nhật ký, nên chúng ta chỉ có thể theo bước chân ngài qua những lá thư ngài gửi cho anh em Dòng Tên ở Châu Á hay cho thánh I-nhã và các bạn ở Rôma, hoặc cho cha giám tỉnh[6] hay vua Bồ Đào Nha[7]. Đây là những tài liệu khá tản mạn, nhưng không phải là không để lại những dấu ấn cá nhân đáng kể[8].

Phục vụ một “vua đời tạm” [9]

Vừa đặt chân đến Goa[10], thánh Phanxicô Xavier bắt tay ngay vào việc: giảng thuyết, dạy giáo lý, giải tội. Ngài hết sức tận tụy. Ngày 20.9.1542, trong thư gửi về Rôma, ngài viết: “Tôi tin rằng ai thực lòng yêu mến thánh giá Chúa Kitô sẽ tìm thấy an nghỉ khi đương đầu với những thử thách. Còn cái chết nào tệ hơn đời sống của người, sau khi đã biết Chúa Kitô, lại bỏ Chúa để chạy theo sở thích và quyến luyến riêng! Thật không có gì buồn hơn. Trái lại, ai chết đi mỗi ngày, tức là đi nguợc lại ý riêng, không tìm những điều thuộc về mình, nhưng là những điều thuộc về Chúa Giêsu Kitô, sẽ được bình an biết bao” (Bt 15,15)[11]. Ngài cũng báo tin sẽ xuống phía nam[12], đồng thời gửi cho thánh I-nhã hai thư khác, một mặt xin Tòa Thánh rộng ban các đặc ân cho giáo dân Ấn Độ (Bt 16), mặt khác đề cập vai trò quan trọng của vị Tổng Trấn và của một trường học tại Goa (Bt 17). Trong hai năm sau đó, thánh Phanxicô Xavier đã vất vả ngày đêm nhằm mục đích “chinh phục khu vực ngoại giáo”(Lt 93). Năm 1543, cùng với các tân tòng, ngài đối diện với những hoạt động thù nghịch của những tín đồ Ấn giáo và Hồi giáo. Ước nguyện duy nhất với ngài đây cũng là ước nguyện của vị Giám Mục và của vị Tổng Trấn sở tại là nới rộng biên cương Hội Thánh dưới quyền “bảo trợ” của Bồ Đào Nha[13]. Việc ngài thiếu thiện cảm với văn hóa và tôn giáo Ấn Độ chỉ hiểu được trong bối cảnh ấy. Từ năm 1544, ngài không còn đơn độc ở Mũi Comorin nữa: ngài có bạn đồng hành là Malsilhas, người Bồ Đào Nha, một tập sinh được ngài nhận vào Dòng Tên. Trong các thư gửi cho tập sinh này[14], chúng ta thấy những hoạt động mục vụ và bác ái của ngài trong lúc giáo đoàn gặp nhiều khó khăn[15]. Rồi tiếng kêu cứu từ Sri Lanca, từ Maluku. Ngài bị xâu xé: phải bảo vệ quyền lợi của Bồ Đào Nha hay phải bênh vực người Ấn Độ

Cuối cùng, ngài dứt khoát. Ngày 20.1.1545, ngài viết thư xin vua João III của Bồ Đào Nha nghiêm túc xem xét lại những mục tiêu đã đề ra ở Châu Á[16]. Nhưng không phải vì giận người Bồ Đào Nha mà ngài bỏ đi; thư gởi về Rôma sau đó mấy ngày cho thấy những lý do tích cực hơn và có lẽ cũng sâu xa hơn[17].

Đến với Thiên Chúa bằng một con đường khác

Thánh Phanxicô Xavier đã hiểu ra: việc phục vụ một vua đời tạm chỉ nhằm mục đích “giúp chiêm ngắm đời sống vị vua muôn đời”(Lt 91). Phải trải qua kinh nghiệm ngài mới vào được trong khoa sư phạm ấy: liên kết ý muốn của con người với ý muốn của Thiên Chúa, mục tiêu với phương tiện của một tình yêu đích thực.

Chúng ta hãy theo ngài. Ngày 20.9.1542, ngài viết: “Xin Chúa ban sức mạnh cho chúng ta ở đời này, để chúng ta phục vụ Chúa trong mọi sự, như Chúa truyền dạy, và chu toàn thánh ý Chúa ở đời này.”(Bt 15, câu kết). Ngày 15.1.1544, ngài tiến thêm một bước: “Xin Chúa ban cho chúng ta ơn này là suốt thời gian đang phải lưu đày, chúng ta cảm nghiệm được, từ bên trong tâm hồn, và chu toàn ý muốn rất thánh Chúa Người.”(Bt 20, câu kết). Ngày 27.1.1545, ngài bước thêm một bước dài: “Xin Chúa ban cho chúng ta được biết và nhận ra ý muốn rất thánh thiện của Chúa, và khi đã nhận ra, xin Chúa ban dồi dào sức lực và ân sủng, để với đức mến, chúng ta chu toàn thánh ý ngay ở đời này.”(Bt 48, câu kết)[18] .

Kế đến, ngày 7 tháng 4 năm ấy, ngài viết cho Mansilhas: “Chúa muốn chúng ta luôn sẵn sàng chu toàn thánh ý mỗi khi Người bày tỏ và cho chúng ta cảm nhận được từ trong lòng. Muốn sống tốt ở đời này, chúng ta phải làm khách hành hương để đi bất cứ đâu, đến nơi chúng ta có thể phục vụ Chúa.”(Bt 50,2). Sau khi cho biết ở Malacca[19], vì thiếu người giúp, nên nhiều người không theo đạo được, ngài kết luận: “Tôi còn nguyên tháng 5 để quyết định.” (Bt 50,3). Ngài đến São Tomé[20] để nhận định. Cha Coelho, cha sở nơi đó, người đã cho ngài trọ, sau này kể lại: “Ngài có thói quen cứ tối đến là lén đến chòi lá sát đền kính vị tông đồ. Một đêm, đang khi thầm thĩ cầu nguyện, ngài kêu lên nhiều lần: Thưa Mẹ, vậy Mẹ không giúp con sao?”[21]. Tối tăm bao trùm trong khi Chúa Thánh Thần thinh lặng. Nhưng cuối cùng, ngài nhận được ánh sáng. Trong thư gửi về Goa ngày 8.5.1545, ngài viết: “Luôn sẵn lòng từ bi, đang đã thương nhớ đến tôi, và tôi đã cảm nhận được an ủi nội tâm mạnh mẽ, nên biết ý Chúa là tôi phải đi vùng Malacca” (Bt 51,1).

Kết quả, ngài đã đến tận đảo Môrô, điểm tận cùng của ý Chúa và của “an ủi”. Ngài viết cho anh em Dòng Tên ở Rôma ngày 20.1.1548: “Tôi nhớ là xưa nay chưa từng được an ủi thiêng liêng lớn lao và liên tiếp như trên các đảo này, lại ít cảm thấy phải cực nhọc vê phần xác (…) Thay vì gọi đó là Các Đảo Môrô, có lẽ nên gọi là Các Đảo Hy Vọng Vào Chúa thì hơn” (Bt 59,4).

GIỮA SÓNG DẬP GIÓ VÙI

Nhờ ơn Chúa, ngay trên quần đảo Inđônêxia, thánh Phanxicô Xavier đã tận hiến cho Thiên Chúa: “Sau khi đã suy nghĩ, con muốn và ước ao nên giống Chúa, miễn là điều này giúp con phục vụ và ca ngợi Chúa hơn” (Lt 98). Nhưng ở Malacca, trên bán đảo Mã Lai, đang khi ngài chờ tàu đi Ấn Độ, có một người Nhật Bản đến gặp ngài (Bt 59,15).

Một lựa chọn đúng và tốt

Kể từ ngày ấy, các hòn đảo Nhật Bản chiếm một chỗ quan trọng trong tâm trí ngài. Ngày 20.1.1548, ngài viết cho thánh I-nhã: “Con chưa quyết định dứt khoát là trong khoảng một năm rưỡi nữa con sẽ phải đi Nhật Bản cùng với một hay hai anh em trong Dòng, hoặc con sẽ phải gửi hai anh em trong Dòng đến đó. Có điều chắc chắn là nếu con không đi được, con sẽ gửi người đi. Cho đến nay, con nghiêng về phía chính con đi hơn. Con đang xin Chúa cho con biết rõ điều nào phù hợp với ý Chúa hơn” (Bt 60,4). Cùng hôm ấy, ngài nói rõ ý định của mình trong các thư gửi vua João III và anh em Dòng Tên ở Rôma. Trong thư trước, ngài đã nghĩ đến việc không ở lại Ấn Độ nữa: “Tôi chưa quyết định dứt khoát đi Nhật Bản, nhưng dần dần tôi sẽ biết phải làm gì, vì tôi rất ít tin tưởng là tôi sẽ được giúp đỡ thực sự ở Ấn Độ, cả để đạo thánh tiến triển cũng như để duy trì tình trạng đạo như hiện nay” (Bt 61,9). Trong thư sau, ngài có cái nhìn tích cực hơn về việc ra đi: “Tôi nghĩ (người Nhật Bản) hiếu học hơn tất cả các dân khác chúng ta từng biết cho đến nay” (Bt 59,16). Ít lâu sau, ngày 2.4.1548, viết cho ông Diogo Pereira[22], ngài đã dứt khoát: “Tôi rất ước ao và rất vui báo cho ông đôi điều, như với một người bạn đích thực và tâm phúc của tôi, về chuyến đi Nhật Bản mà tôi dự tính sẽ thực hiện trong vòng một năm nữa” (Bt 65,1).

Đến ngày 1.2.1459, việc nhận định kết thúc: ngài sẽ cùng với cha Cosma de Torres khởi hành vào tháng 4. Ngài viết cho thánh I-nhã: “Ở Nhật Bản, tất cả là lương dân, không có người Hồi giáo cũng không có người Do Thái, mà lại có đầu óc tò mò, rất muốn học biết cái mới, cả về Thiên Chúa cũng như về những điều tự nhiên khác, nên con đã quyết định sẽ đến đó. Con thấy tâm hồn rất phấn khởi. Con không ngại đi Nhật Bản, vì con cảm nhận trong tâm hồn mình cái gì đó dào dạt, mặc dầu con hầu như chắc chắn sẽ gặp nhiều nguy hiểm lớn lao hơn những gì con từng gặp xưa nay” (Bt 70,8.10). Tin chắc là đã được chính Thiên Chúa thúc bách, ngài nêu lên những lý do (Lt 180-183). Ngài giải thích với thánh I-nhã là ở Nhật Bản “anh em trong Dòng chúng ta có thể dùng đời sống làm trổ sinh hoa trái, và sau đó chính họ sẽ tiếp nối” (Bt 70,8). Về điều này, ngài đã được xác chuẩn: Anjiro, người Nhật Bản ngài đã gặp ở Malacca, cùng với hai người bạn đã sẵn sàng lên đường. Ngài viết cho thánh I-nhã: “Ở Học viện Đức Tin tại Goa, có ba thanh niên sinh trưởng tại đảo Nhật Bản ấy. Họ cùng từ Malacca đến đó với con năm 48. Họ đã cho con biết nhiều điều về khu vực Nhật Bản, và con hiểu dân chúng ở đó có phong hóa tốt, lại rất thông minh, cách riêng là Phaolô[23] “Trong vòng 8 tháng, Phaolô đã học đọc, viết và nói tiếng Bồ Đào Nha, và hiện đang tập Linh Thao. Anh ấy tiến rất xa và đi sâu vào những điều thuộc Đức Tin. Con rất hy vọng, điều này chỉ đặt hết nơi Thiên Chúa, là ở Nhật Bản sẽ có nhiều người theo đạo” (Bt 71,8). Với cha Simão Rodrigues, ngài nói rõ: “Trong các khu vực này (Ấn Độ), người ta không cần đến tôi lắm nữa, vì có các cha đến trong năm nay” (Bt 73,3)[24].

Viết cho vua João III, ngài nói khác: “Kinh nghiệm đã dạy cho tôi biết là Hoàng Thượng thi hành quyền bính ở Ấn Độ không phải chỉ vì muốn tăng số người tin vào Đức Kitô: Hoàng Thượng thi hành quyền bính cũng để chiếm hữu của cải vật chất ở Ấn Độ nữa. Xin Hoàng Thượng thứ lỗi vì tôi nói toạc ra như vậy (?) Tôi không hy vọng chút nào là những mệnh lệnh hay chỉ thị có lợi cho giáo đoàn mà Hoàng Thượng gửi đến sẽ được tuân giữ ở Ấn Độ. Chính vì vậy mà tôi đi Nhật Bản, gần như bỏ trốn, để khỏi mất thêm thời giờ như trước kia đã mất” (Bt 77,2.3). Đến Malacca vào mùa xuân năm 1549. Ngài biết rõ là những nguy hiểm do bão tố và cướp biển luôn chờ đợi ngài. Với những ai sợ, ngài trả lời: “Vì Thiên Chúa có quyền trên chúng ta hết thảy, nên tôi không sợ ai, ngoại trừ Thiên Chúa. Còn những nỗi sợ, những nguy hiểm khác, những đau khổ khác, mà bạn bè nói tới, tôi kể là số không. Tôi chỉ còn sợ Thiên Chúa, vì nỗi sợ đối với các thụ tạo chỉ lớn tới mức Đấng Sáng Tạo ra chúng cho phép là cùng” (Bt 78,2). Nhưng một cuộc chiến khác đang chờ đợi người “khách hành hương”.

Đương đầu với “thủ lãnh các kẻ thù”

Lúc còn ở Ấn Độ, để khích lệ cha Henriques đang ở Travancore, ngài đã viết: “Hãy thấy là cha sinh được nhiều hoa trái ở vương quốc Travancore này hơn cha nghĩ, vì từ khi cha đến đó, bao nhiêu trẻ em đã được rửa tội và đã qua đời, hiện nay đang sống trong vinh quang Thiên Đàng (…) Kẻ thù của loài người rất thù ghét cha, và muốn cha tránh xa xứ ấy, để đừng ai rời bỏ vương quốc Travancore mà lên Thiên Đàng nữa. Ma quỉ thường nhử những người đang phục vụ Đức Giêsu Kitô là họ sẽ phục vụ Thiên Chúa được nhiều hơn, với ý xấu là làm cho một linh hồn đang phục vụ Thiên Chúa được ở nơi này phải áy náy và bối rối, vì vậy bỏ đi nơi khác, thế là nó đuổi được người ấy ra khỏi nơi họ đang phục vụ được Thiên Chúa” (Bt 68,3)[25]. Mấy tháng sau, đang khi chờ tàu tại Malacca, ngài viết thư gửi anh em Dòng Tên Ấn Độ: “Kẻ Thù vùng vẫy rất nhiều để ngăn cản tôi thực hiện chuyến đi này: tôi không biết nó sợ gì trong việc chúng tôi đi Nhật Bản.” Rồi ngài viết tiếp: “Thực ra, tôi luôn luôn giữ trước mắt và trước trí khôn tôi điều tôi đã nhiều lần nghe cha I-nhã nói: những ai muốn thuộc về Dòng này phải chịu gian khổ để thắng được mình và đuổi xa mọi nỗi sợ là điều ngăn cản người ta tin, cậy và mến Chúa, và muốn được như vậy, phải sử dụng những phương thế thích đáng” (Bt 85,8.13). Đây chẳng phải là ngài ám chỉ các qui tắc nhận định sao (Lt 325-327)?

Nhưng mặt biển mới là nơi thử thách nặng nề. Trên chiếc thuyền gỗ của một nhà buôn Trung Hoa có biệt danh là Hải Tặc, một bức tượng Thủy Tề được đặt trang trọng ở mũi thuyền. Thánh Phanxicô Xavier kinh hoàng và khổ sở: “Người ta mang theo một tượng thần trên thuyền, đặt ngay ở phía trước; anh thuyền trưởng và các kẻ ngoại khác cầu khẩn cúng bái bức tượng liên tục, và chúng tôi không sao ngăn cản được họ nhiều lần gieo quẻ để hỏi tượng thần xem chúng tôi có đến Nhật Bản được không, gió cần cho thuyền chạy có kéo dài không: khi thì họ nói là tốt, khi thì họ nói là xấu, theo như họ tin (…) Anh em thấy là chúng tôi phải khổ sở thế nào trong chuyến đò ấy, vì chúng tôi có đi Nhật Bản được hay không là tùy thuộc ý kiến của ma quỉ và các tôi tớ của nó, mà những người điều khiển và hướng dẫn con thuyền thì cứ nhất nhất làm theo như ma quỉ nói với họ qua các thẻ”(Bt 90,2.4). Hẳn là ngài nghĩ đến điều thánh I-nhã viết trong Linh Thao: Luxiphe gửi thuộc hạ đi “bủa lưới và xiềng xích” khắp nơi (Lt 142). Bão tố nổi lên, các tai họa dồn dập, và thánh Phanxicô Xavier bị thử thách tận trong đấy lòng. Chính ngài phải chiến đấu: “Tôi cảm nhận được, biết được bằng chính cảm nghiệm, nhiều điều liên hệ đến những nỗi kinh hoàng rụng rời do ma quỉ gây ra”(Bt 90,7). Nhưng chính Thiên Chúa cũng chỉ cho ngài lối thoát: “Phương thuốc tốt nhất cần dùng trong những hoàn cảnh như vậy là hết sức dũng cảm chống lại Kẻ Thù, đừng tin tưởng chút nào nơi mình, nhưng đặt hết tin tưởng nơi Thiên Chúa, đặt tất cả sức mạnh và tất cả hi vọng nơi Người, và nhờ Đấng Bảo Vệ vĩ đại như vậy, chúng ta trở nên mạnh mẽ; đừng hèn nhát và không chút nghi ngờ việc mình sẽ chiến thắng” (Bt 90,7). Vậy là ngài trở nên rất khiêm tốn, thoát ra khỏi chính mình, đặt mình trọn vẹn trong tay Chúa: ngài đang chiến đấu dưới cờ hiệu của Đức Kitô, “ở một nơi khiêm tốn, xinh đẹp và dễ thương”, chứ không phải như Luxiphe hay các thuộc hạ của nó “dữ tợn và đáng sợ, ngồi trên ngai lửa và khói” (Lt 140 và 143).

Bão tố đến rồi đi. Vì có hải tặc, người chủ thuyền không dám ghé vào Quảng Đông như dự tính, nhưng tiến thẳng đến Nhật Bản, và mọi chuyện êm xuôi. Trong lá thư đề ngày 29.1.1552, gửi anh em Dòng Tên ở Rôma, thánh Phanxicô Xavier kể khá kỹ về thời gian ngài lưu lại trên đất Nhật Bản, đặc biệt là những câu hỏi người ta nêu lên về Thiên Chúa và việc Sáng Tạo (Bt 96). Nhưng người Nhật Bản vẫn thắc mắc: Tại sao người Trung Hoa không biết và tin Chúa Giêsu?

HƯỚNG VỀ TRUNG HOA

Trên đường trở lại Ấn Độ, thánh Phanxicô Xavier dừng chân tại Malacca. Ngài nhận được nhiều thư từ và tin tức, đặc biệt thư của thánh I-nhã thiết lập Tỉnh Dòng Ấn Độ và đặt ngài làm giám tỉnh, và tình trạng đáng lo ngại ở Học viện Thánh Phaolô tại Goa. Ngài có nhiều việc phải lo hơn, nhưng cũng được tự do trong hoạt động tông đồ hơn.

Sức mạnh của lòng yêu mến

Trước khi đi Nhật Bản, thánh Phanxicô Xavier đã đi thăm một vòng các anh em ở nhiều nơi để thảo luận về công cuộc truyền giáo và về việc thiết lập hay phát triển các trường học. Riêng về Học viện Thánh Phaolô ở Goa, mặc dầu ngài thấy cha viện trưởng Antonio Gomes quá độc đoán, cần phải thuyên chuyển, nhưng ngài chưa dứt khoát. Ngài đã viết cho thánh I-nhã trong thư ngày 1.2.1549: “Ở đây, anh em trong Dòng không lấy làm gương sáng lắm trước lệnh do N.[26] mang đến là bắt giam và trói bằng xiềng xích những ai, theo N., không làm gương sáng lắm ở đây để gửi vể Bồ Đào Nha”(Bt 70,4)[27]. Rồi ngài tâm sự với thánh I-nhã: “Con nghĩ rằng Dòng Tên là Dòng yêu mến và hiệp nhất tâm hồn, chứ không phải là ép buộc hay sợ hãi như nô lệ”(Bt 70,5). Ba năm sau, từ Nhật Bản trở về, ngài thấy tình hình trở nên tệ hại hơn, và ngài vẫn không thay đổi ý kiến. Cha Antonio Gomes quả là không hiểu gì thánh Phanxicô Xavier khi muốn biến Học viện Thánh Phaolô ở Goa thành một Học viện Coimbra[28] thứ hai: xây dựng thật lớn lao, nhưng chỉ nhận học sinh người Bồ Đào Nha[29] . Trái lại, ở Cochin, Dòng Tên cũng có một trường học, nhưng không có một nhà thờ xứng đáng, ngài đã không ngần ngại tiếp nhận nhà thờMadre de Dios, của Hội Từ Thiện Casa da Misericordia, tổ chức tốt nhất của người Bồ Đào Nha tại Châu Á thời ấy. Trong một thời gian ngắn, ngài thu xếp mọi công việc đâu vào đó, để rồi lại thực hiện một chuyến đi xa nữa.

Thực ra, ước nguyện của thánh Phanxicô Xavier không chỉ dừng lại ở việc làm “triển nở” cộng đồng tín hữu Bồ Đào Nha ở Ấn Độ, nhưng còn muốn góp phần tạo ra những cộng đồng mới: không còn tranh chấp, kiện tụng, gương xấu, nhưng giữa anh em Dòng Tên và hàng giáo sĩ triều cũng như dòng, có sự thông cảm và cộng tác; còn những kỳ đà cản mũi trong Dòng Tên thì bị loại trừ khỏi Dòng (Bt 100 và 101). Đi xa hơn nữa, ngài ra lệnh cho cha Berze, viện trưởng mới của Học viện Thánh Phaolô: “Trong cách xử sự với các cha và các anh em, phải rất quí mến, bác ái và khiêm tốn, đừng thô bạo hay gắt gao…”(Bt 115,1); “Còn về cách giúp (các tín hữu) thì càng phổ cập hơn càng tốt” (Bt 115,4). Ngài cũng muốn các tập sinh trong Dòng phải được huấn luyện tử tế bằng việc tập Linh Thao và thực hiện nghiêm túc các thực nghiệm[30]. Nhưng ngài nhấn mạnh đặc biệt đến việc anh em trong Dòng phải hiệp nhất với nhau và với bề trên (Bt 117). Ngài nghĩ cả đến việc được gọi trở về Rôma để gặp thánh I-nhã. Trong thư ngày 29.1.1552, ngài gần như gợi ý với thánh I-nhã: “Cha viết cho con là cha rất mong được gặp con trước khi lìa khỏi cõi đời này… Đối với đức tuân phục thì không có gì là không thể được”(Bt 97,3). Thư hồi âm của thánh I-nhã đến Ấn Độ thì thánh Phanxicô Xavier đã qua đời từ lâu rồi![31].

Chẳng những là một người dễ gần gũi, mà thánh Phanxicô Xavier còn là một người thích chia sẻ và hiệp thông nữa. Ngài học được với thánh I-nhã là “mọi điều thiện hảo, mọi ân huệ đều từ trên cao ban xuống” (Lt 237), nên việc kết hiệp với Thiên Chúa được đặt nền móng trên việc Người hiện diện khắp nơi. Nhưng đối với thánh Phanxicô Xavier, kinh nghiệm này rất sống động. Tìm gặp Thiên Chúa trong hiện tại chính là tìm kiếm Người mọi nơi mọi lúc. Do đó, nơi ngài, việc nhận định được liên kết với việc mở rộng hoạt động truyền giáo, và muốn tiến bộ trong chiêm niệm phải nhìn ngắm thế giới này bằng con mắt thiêng liêng. Như trong bài “Chiêm niệm để đạt tới tình yêu” trong Linh Thao (Lt 230-237), việc “tìm gặp Thiên Chúa trong mọi sự” được nâng lên thành một chia sẻ và hiệp thông trong yêu mến, nơi đó con người được mời gọi mở cửa cho Thiên Chúa, Đấng hoạt động cả bên trong cũng bên ngoài[32].

“Xin đừng bao giờ để con lìa xa Chúa”

Vừa về đến Ấn Độ, thánh Phanxicô Xavier bày tỏ ngay với thánh I-nhã về ước muốn đi Trung Hoa để phục vụ Thiên Chúa hơn. Chúng ta đã biết điều gì thúc bách ngài, ở đây chúng ta để ý đến điểm đặc biệt là các suy nghĩ của ngài rất gần với những điều được trình bày trong Hiến Chương Dòng Tên[33]. Nguyên tắc hướng dẫn việc lựa chọn hoạt động tông đồ của Hiến Chương Dòng Tên là trong hoàn cảnh cụ thể, ưu tiên cho hoạt động nào “phục vụ Thiên Chúa hơn và lợi ích phổ cập hơn”[34]. Đó cũng chính là điều thánh Phanxicô Xavier đã nghĩ khi viết: “Trong Thiên Chúa, tôi rất hi vọng là một con đường sắp được mở ra, không chỉ cho anh em trong Dòng, mà còn cho tất cả các dòng khác…” (Bt 96,52). Theo Hiến Chương Dòng Tên, phải chọn nơi nào người ta sẵn sàng để hoa trái thiêng liêng trổ sinh hơn. Thánh Phanxicô Xavier quyết định đi Trung Hoa vì người Trung Hoa “có trí khôn sâu sắc” và “hiếu học” hơn người Nhật Bản nhiều (Bt 96,50). Theo Hiến Chương Dòng Tên, “sự thiện càng phổ cập càng đẹp lòng Thiên Chúa”, nên phải ưu tiên đối với những người sẽ làm cho sự thiện đến được những người khác nữa, “những người dưới quyền họ hoặc chịu ảnh hưởng của họ”. Đây cũng chính là điều thánh Phanxicô Xavier nhắm tới: khi người Trung Hoa đón nhận Đạo Chúa Kitô, họ sẽ giúp cho người Nhật Bản bỏ lòng tin tưởng nơi các giáo phái từ Trung Hoa truyền sang.

Đã nắm vững những nguyên tắc hướng dẫn ấy, thánh Phanxicô Xavier chuẩn bị chuyến đi hết sức chu đáo. Ngày 8.4.1552, ngài viết cho vua João III: “Ông Diogo Pereira đi với tư cách là đại sứ (của Tổng Trấn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ), để đòi lại những người Bồ Đào Nha đang bị (chính quyền Trung Hoa) cầm tù, và cũng để thiết lập quan hệ hòa bình và hữu nghị giữa Hoàng Thượng và vua Trung Hoa. Về phần chúng tôi, các linh mục Dòng Tên Chúa Giêsu, tôi tớ của Hoàng Thượng, chúng tôi đi để gây chiến tranh và bất hòa giữa ma quỉ với những người thờ lạy chúng, thay mặt Thiên Chúa nài van trước là nhà vua, sau là tất cả dân chúng trong vương quốc, để họ đừng thờ lạy ma quỷ nữa, nhưng thờ lạy Đấng tạo thành trời đất, vì chính Người đã dựng nên họ, và chính Chúa Giêsu Kitô đã cứu chuộc họ” (Bt 109,5). Trong lá thư cuối gửi cho thánh I-nhã, thánh Phanxicô Xavier hạ giọng hơn, như thổ lộ tâm tình, trong đó chúng ta thấy sứ mạng và chiêm niệm quyện vào nhau: “Mọi người đều nói với con là từ Trung Hoa có thể đi Giêrusalem được”(Bt 110,12). Sau khi huấn dụ anh em Dòng Tên ở Goa vào đêm thứ năm Tuần Thánh, ngài rời Goa đi Malacca để theo tàu của ông Pereira đi Trung Hoa. Thật bất ngờ: hai người con của nhà thám hiểm lỗi lạc Vasco da Gama cùng ở Malacca, nhưng đối xử với ngài hoàn toàn khác nhau. Người anh là Pedro da Silva da Gama, trấn thủ trên đất, hết lòng ủng hộ ngài, nhưng người em là Alvaro da Ataida da Gama, trấn thủ trên biển, nhất định không cho tàu nhổ neo. Ngài phải lấy quyền Phái Viên Tòa Thánh để ra vạ tuyệt thông, nhưng viên sĩ quan ấy cũng chỉ cho phép tàu đi mà không có ông Pereira. Mọi sự bỗng nhiên như sụp đổ trước mắt ngài. Nhưng rồi ngài vẫn đi, “không có một đặc ân nào của ai, hi vọng một người Môrô hay một kẻ ngoại sẽ chở tôi vào đất liền ở Trung Hoa”(Bt 125,4).

Khoảng đầu tháng 9 năm 1552, ngài đặt chân lên đảo Thượng Xuyên[35], một hòn đảo vốn hoang vu đã được các nhà buôn Trung Hoa và Bồ Đào Nha biến thành một thương cảng. Nhờ các tàu buôn Bồ Đào Nha đi Malacca, thánh Phanxicô Xavier tiếp tục điều hành Tỉnh Dòng qua thư từ. Trong khi nóng lòng chờ đợi một nhà buôn Trung Hoa đến đón như đã hẹn, ngài đề ra những phương án khả thi khác: trở về Ấn Độ, theo một phái đoàn sứ thần Thái Lan để vào Trung Hoa. Nhưng rồi ngài ngã bệnh. Dầu vậy, ngài vẫn chưa ngã lòng: “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta…” (Rm 8,31)[36]. Nhưng ngài không dậy được nữa. Giờ đã đến để ngài dâng lên Thiên Chúa của lễ tối hậu: “Lạy Chúa, xin thương nhận… Mọi sự đều là của Chúa, xin Chúa sử dụng tùy ý Chúa. Xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Chúa. Ơn Chúa làm thỏa lòng con” (Lt 234).

Nếu ước nguyện duy nhất của thánh Phanxicô Xavier là đem Tin Mừng đến cho những người ở xa, thì mười năm ở Châu Á của ngài được ghi dấu bằng ba cột mốc là ba chuyến đi lớn. Khi rời Ấn Độ đi Inđônêxia, ngài phần nào tách khỏi quyền “bảo trợ truyền giáo” của Bồ Đào Nha và lao mình vào nơi ngài chưa hề biết gì. Đó cũng là dịp để ngài đến với Thiên Chúa một cách khác. Quyết định đi Nhật Bản là kết quả một cuộc nhận định lâu dài, nhưng dọc theo bờ biển Trung Hoa, ngài khám phá ra Thiên Chúa đòi hỏi ngài hơn nữa: phó thác trọn vẹn nơi Người. Chuyến đi cuối cùng của ngài vẫn nằm trong ước nguyện cơ bản nguyên thủy: đó không phải là một cuộc chạy trốn về phía trước, vì mặc dầu bất đắc dĩ phải ở lại Thượng Xuyên, ngài vẫn tận tình chu toàn nhiệm vụ giám tỉnh. Nhưng chính lúc ấy, cái chết đến thật bất ngờ. Chắc chắn ba chuyến đi ấy chưa làm cho ngài kiệt sức, nhưng đủ làm nổi rõ những đường nét thâm sâu trong cuộc sống của ngài.

———————————
[1] Tạp chí Christus 196, Octobre 2002, trang 493-502.
[2] Trích dẫn theo André Ravier, La Compagnie de Jésus sous le gouvernement d’Ignace de Loyola (1541-1556), Desclée de Brouwer, coll. “Christus”, 1991, trang 203.
[3] Saint Francis Xavier (1953), Desclée de Brouwer, coll. “Christus”, 1997. Người viết dựa khá nhiều vào tác phẩm này.
[4] Chú thích của người dịch: Tại Paris, thánh Phanxicô Xavier đã gặp thánh I-nhã, gia nhập nhóm bạn của ngài, tập Linh Thao. Tại Rôma, nhóm bạn ấy trở thành Dòng Tên. Thánh Phanxicô Xavier cũng từ Rôma đi Ấn Độ theo lệnh của Đức Thánh Cha Phaolô III.
[5] Chú thích của người dịch: Quần đảo phía đông bắc Inđônêxia hiện nay, người Tây Phương thường gọi là Moluques hay Moluccas.
[6] Chú thích của nguời dịch: Cha Simão Rodrigues, một người trong nhóm bạn đầu tiên của thánh I-nhã từ Paris, làm giám tỉnh Dòng Tên Bồ Đào Nha từ 1546 đến 1552. Từ 1546, Dòng Tên Ấn Độ thuộc Tỉnh Dòng Bồ Đào Nha. Trước đó, cha Simão Rodrigues vẫn là bề trên của thánh Phanxicô Xavier. Năm 1549 Dòng Tên Ấn Độ được tách khỏi Bồ Đào Nha để trở thành Tỉnh Dòng biệt lập, và thánh Phanxicô Xavier được thánh I-nhã bổ nhiệm làm giám tỉnh tiên khởi.
[7] Vua João III, rất ưu ái Dòng Tên.
[8] Người viết sẽ nêu lên nhiều nét đặc thù để trình bày một khuôn mặt khác của thánh Phanxicô Xavier, không lệ thuộc vào những vấn nạn về tôn giáo và văn hóa hiện nay.
[9] Chú thích của nguời dịch: Cụm từ này xuất phát từ Linh Thao, số 91 (LT 91).
[10] Chú thích của nguời dịch: thành phố trên bờ biển phía tây Ấn Độ, là thủ phủ của người Bồ Đào Nha ở khu vực Châu Á.
[11] Chú thích của nguời dịch: Bút tích (bt) thánh Phanxicô Xavier, tài liệu 15, đoạn 15. Tất cả những điều thánh Phanxicô Xavier đã viết, và còn lưu lại, được gom lại trong bộ Bút tích (bản tiếng Tây Ban Nha Cartas y Ecritos de San Franciso Javier của Felix Zubillaga, S.J., Biblioteca de Autores Cristianos, Madrid, MCMLIII; bản tiếng Pháp Saint Francis Xavier, Correspondance 1525-1552, Lettres et documents của Hugues Didier, S.J., Dwsclée de Brouwer 1987; bản tiếng Anh The Letters and Instuctions of Francis Xavier của M. Joseph Costelloe, S.J., Stanislaô. Louis, Missouri, 1992; bản tiếng Việt Bút tích thánh Phanxicô Xavier của Hoàng Sóc Sơn).
[12] Chú thích của nguời dịch: Khu vực Mũi Comorin ở cực nam Ấn Độ.
[13] Theo hiệp định Tordesilas năm 1494, Đức Giáo Hoàng Alexanđrô VI chia những vùng đất người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha mới khám phá được làm 2 phần, phía tây cho Tây Ban Nha, phía đông cho Bồ Đào Nha, với nhiệm vụ gầy dựng và phát triển Hội Thánh trong phần đất mới. Nhiệm vụ này được gọi là “bảo trợ”.
[14] Chú thích của nguời dịch: 25 thư liên tục (Bt 21-45).
[15] Chú thích của nguời dịch: bị các tiểu vương chung quanh bách hại, bị người Bồ Đào Nha bỏ rơi.
[16] Chú thích của nguời dịch: Bt 46.
[17] Chú thích của nguời dịch: Bt 47.
[18] Chú thích của nguời dịch: tác giả viết là thư số 18, nhưng có lẽ thư 48 thì chính xác hơn.
[19] Chú thích của nguời dịch: Có lẽ thánh Phanxicô Xavier muốn nói ở Makassar (một thị trấn trong khu vực Maluku).
[20] Nay là Maliapur. Người ta truyền tụng là Thánh Tôma tông đồ đã tử đạo và được an táng tại đó.
[21] Trích dẫn theo James Brodrick, Saint Francis Xavier, Spes, 1954, trang 221-222.
[22] Đây là một nhà buôn giàu có người Bồ Đào Nha, sau này sẽ tài trợ chuyến đi Trung Hoa của thánh Phanxicô Xavier.
[23] Chú thích của nguời dịch: Tên thật là Anjirô.
[24] Số anh em Dòng Tên ở Ấn Độ sẽ lên đến 30 trong năm 1549.
[25] Chú thích của nguời dịch: Người viết ghi là 69, nhưng có lẽ 68 thì chính xác hơn.
[26] Chú thích của nguời dịch: Ám chỉ cha Antonio Gomes, do cha giám tỉnh Bồ Đào Nha là Simão Rodrigues gửi đến và đặt làm viện trưởng Học viện Thánh Phaolô ở Goa.
[27] Chú thích của nguời dịch: Có lẽ theo cách và lệnh của cha Simão Rodrigues ở Bồ Đào Nha.
[28] Chú thích của nguời dịch: Học viện Coimbra ở Bồ Đào Nha là một trường đại học; trong khi Học viện Thánh Phaolô ở Goa thâu nhận để huấn luyện các thiếu niên Ấn Độ ở mức độ thấp hơn nhiều, nhằm mục đích đào tạo các linh mục, tu sĩ và giáo lý viên bản xứ.
[29] Chú thích của nguời dịch: Về sau, cha Antonio Gomes bị thánh Phanxicô Xavier khai trừ khỏi Dòng Tên.
[30] Chú thích của nguời dịch: Chẳng hạn làm các việc phục dịch trong nhà, phục vụ bệnh nhân trong bệnh viện, dạy giao lý cho trẻ em và người ít học…
[31] Chú thích của nguời dịch: Thánh I-nhã nhận được thư này vào tháng 4 năm 1553. Ngày 28.6.1553, trong thư hồi âm, thánh I-nhã viết: “Xét thấy để phục vụ Thiên Chúa hơn và để giúp đỡ các linh hồn hơn…, tôi đã quyết định ra lệnh cho cha, nhân danh đức tuân phục, giữa bao nhiêu cách, hãy theo cách nào có cơ hội đầu tiên, mà hành trình tốt, để về Bồ Đào Nha.”
[32] Michel Certeau, “L’universalisme ignatien: mystique et mission”, Christus, n.50, avril 1966, trang 173-183.
[33] Hiến Chương Dòng Tên được thánh I-nhã soạn thảo ở Rôma, chỉ được chính thức công bố năm 1558, khi cả thánh Phanxicô Xavier cũng như thánh I-nhã đã qua đời, nhưng vào những năm cuối đời, thánh Phanxicô Xavier cũng đã biết phần nào (Bt 107,7).
[34] Xem Hc 622 (Hiến Chương Dòng Tên số 622).
[35] Chú thích của nguời dịch: Hòn đảo dài chừng 24 dặm, rộng chừng 14 dặm, cách đất liền Trung Hoa 8 dặm, cách thành phố Quảng Châu khoảng 120 dặm, là khu chợ trời cho các nhà buôn Trung Hoa và Bồ Đào Nha trao đổi hàng hóa, vì Hoàng Đế Trung Hoa cấm người Châu Âu vào đất liền. Thánh Phanxicô Xavier lên đảo, cùng với mấy người bạn ở trong một chòi của một nhà buôn Bồ Đào Nha. Ngài xin dưng một nhà nguyện bằng lá để hằng ngày đến dâng lễ và cầu nguyện.
[36] Thánh Phanxicô Xavier trích dẫn trong Bt 131,6.

Thánh CÊCILIA Đồng Trinh Tử Đạo

Cuộc tử nạn của thánh CÊCILIA rất được nhiều người biết đến, quí chuộng thán phục và ưa lập lại. 

Nhưng những thế kỷ đầu không thấy nói gì tới vị thánh này cả. Thánh Ambrôsiô, Hierônimô rất kính các trinh nữ tử đạo, nhưng không nhắc đến tên Ngài. Ba trăm năm sau cuộc tử đạo giả định này, câu chuyện của thánh nữ xem ra là một trong những áng văn đẹp nhất làm say mê tín hữu và phổ biến rộng rãi lạ thường. Câu chuyện tưởng tượng về thánh nữ Cêcilia được chen vào giữa hai vị tử đạo có thật là Valêriô và Tiburtiô. Truyện đó như sau : 

Cêcilia thuộc gia đình quí phái sống tại Roma dưới thời vua Alexander Sêvêrô. Cuộc bách hại thật dữ dằn. Một mình trong gia đình là Kitô hữu, Ngài luôn mang theo cuốn Phúc âm và sống đời cầu nguyện bác ái. Mỗi khi tới hang toại đạo là nơi Đức giáo hoàng Urbanô bí mật cử hành thánh lễ, đoàn người ăn xin đợi chờ Ngài trên đường đi Roma chìa tay xin Ngài phân phát của bố thí. Dưới lớp áo thêu vàng, Cêcilia mặc áo nhậm mà vẫn tỏ ra bình thản dịu dàng. 

Trong khi tuổi trẻ ngoại giáo mê say nhạc trần tục, lòng Cêcilia hướng về Chúa và ca tụng một mình Ngài thôi. Đáp lại lòng đạo đức của Ngài, Thiên Chúa cho Ngài được đặc ân được thấy thiên thần hộ thủ hiện diện bên mình. 

Cha mẹ Cêcilia gả Ngài cho một nhà quí phái tên là Valêriô yêu Cêcilia nồng nhiệt, ông không biết Ngài theo Kitô giáo, nhưng ông có một tâm hồn ngay thẳng. 

Ngày cưới, Cêcilia mặc chiếc áo nhặm duới lớp áo ngoài sang trọng và khẩn cầu Chúa giữ cho mình được trinh nguyên. Giữa những tiếng ca vui nhộn, Cêcilia vẫn theo thói quen cùng với các thiên thần ca hát những khúc thánh thi. Bởi đó mà các người Kitô hữu hay nhận Ngài là bổn mạng của các nhạc sĩ. Chúa Giêsu khấng nghe lời ca trong trắng tự lòng vị hôn thê trẻ dâng lên Ngài. Khi chiều về, Cêcilia nói với Valêriô: 

- Thưa Chúa công, em có điều này muốn nói với anh, không bàn tay trần tục nào được động tới em, vì em có một thiên thần bảo vệ. Nếu anh tôn trọng em, Ngài cũng yêu mến anh và ban ân phúc cho anh. 

Ngạc nhiên và rất cảm kích, Valêriô đã ao ước nhìn thấy thiên thần. Cêcilia mới nói rằng: ông phải chịu phép rửa tội đã, rồi nàng giải thích mầu nhiệm cứu rỗi các linh hồn do đức Kitô cho ông nghe. Ngài đề nghị: - Anh hãy tới đường Appianô. Anh sẽ gặp những người nghèo khổ và lấy danh nghĩa em để xin họ dẫn anh tới gặp cụ già Urbanô đang ẩn náu trong hang toại đạo. Vị giám mục này sẽ dạy dỗ anh hay hơn em, Ngài sẽ chúc bình an cho anh, sẽ mặc cho anh bộ áo trắng tinh. Rồi trở lại đây anh sẽ thấy thiên thần của em. 

Valêriô theo lời vị hôn thê của mình, đến đường Appianô và được dẫn tới vị giám mục. Ngài dạy đạo và rửa tội cho ông. Trở về với Cêcilia . Ông gặp nàng đang cầu nguyện, có thiên thần bên cạnh, khuôn mặt thiên thần rực sáng, tay cầm hai triều thiên kết bằng hoa huệ và hoa hồng. Ngài đặt một chiếc trên đầu Cêcilia và một chiếc trên đầu Valêriô và nói:

- "Hãy giữ lòng trong trắng để xứng đáng bảo vệ những triều thiên này, chúng từ vườn của Thiên Chúa, không bao giờ tàn tạ, chẳng hề lạt hương". 

Thiên thần còn nói thêm : - "Hỡi Valêriô, bởi vì anh đã biết nghe lời hiền thê của anh, vậy anh xin điều gì anh muốn". 

Valêriô có người em ông yêu thương lắm tên là Tiburtiô, ông xin : - "Con muốn em con cũng biết đạo thật như con" 

Thiên thần trả lời : - Điều anh xin rất đẹp lòng Chúa. Vậy hãy biết rằng: Tiburtiô và anh sẽ lên trời với ngành vạn tuế tử đạo". 

Ngay lúc ấy Tiburtiô xuất hiện. Ông thấy mùi hoa huệ và hoa hồng và muốn biết từ đâu mà có hương thơm như vậy giữa mùa này, thứ hương thơm như làm con người ông trẻ lại. Cêcilia đã nói cho ông hiểu sự hư không của các ngẫu thần, đã tỏ cho ông thấy sự rực rỡ của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Tiburtiô muốn được sự chỉ dạy, và đến lượt ông, cũng đã lãnh nhận bí tích rửa tội do đức giáo hoàng Urbanô. 

Cêcilia, Valêriô và Tiburtiô cùng nhau sống đời thánh thiện. Họ phân phát của bố thí cho các Kitô hữu bị bắt bớ, bí mật cầu nguyện với những người bị kết án và khuyến khích họ can đảm chịu cực hình. Đêm về hai anh em lo chôn cất xác các vị tử đạo. 

Chẳng bao lâu họ bị phát giác. Tổng trấn Almachiô ngac nhiên hỏi: - Các người quan tâm tới các tử tội bị ta kết án hay sao ? 

Cêcilia trả lời : - Thật đẹp lòng Chúa biết bao, nếu chúng tôi xứng đáng được làm nô lệ cho những người mà Ngài kết án là tử tội. 

Quan tổng trấn nhún vai cho rằng: người đàn bà này mất trí. Ông tách riêng Valêriô và Tiburtiô và cũng hỏi như vậy. Nhưng các Ngài đã khinh thường danh vọng với sang giàu mà Almachiô rất coi trọng. Ông liền kết án trảm quyết các Ngài. Tác giả kể lại cuộc tử nạn các Ngài đã nói: - Người ta thấy các Ngài chạy xô tới cái chết như tới dự một đại lễ. 

Cêcilia thu lượm và chôn cất xác các Ngài. Nàng vẫn tiếp tục bao bọc cho các Kitô hữu bị bách hại. Almachiô liền tống giam các Ngài. Bị vấn danh Ngài nói : - Tôi tên là Cêcilia, nhưng Kitô hữu là tên đẹp hơn nhiều của tôi. 

Quan tổng trấn bắt nộp tài sản của Valêriô và Tiburtiô. Cêcilia trả lời để tất cả đã được phân phát cho người nghèo rồi. Tức giận Almachiô truyền cho Cêcilia phải dâng hương tế thần ngay nếu không sẽ phải chết. Cêcilia cười trả lời : - Chư thần của ông chỉ là đá, đồng chì, và Ngài tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô mà thôi. Các binh sĩ xúc động nghĩ rằng Ngài sắp phải chết nên nài nỉ: - Cô sang trọng và trẻ đẹp, hai mươi tuổi đầu hãy dâng hương tế thần đi, đừng để chết uổng. 

Nhưng Cêcilia trả lời họ rằng: - Các ông không biết rằng chết vào tuổi tôi, không phải là đánh mất tuổi trẻ, nhưng là đổi chác vì Thiên Chúa sẽ trả lại gấp trăm cái người ta dâng cho Ngài sao ? Nếu người ta đưa quí kim để đổi lấy vật tầm thường, các ông có ngập ngừng không ? 

Nghe Ngài các binh sĩ hoán cải. Almachiô mất bình tĩnh truyền giam Ngài vào phòng tắm. Căn phòng đầy hơi nóng. Cêcilia không hề thấy khó chịu. Almachiô truyền chém đầu Ngài lý hình ba lần dùng gươm mà chỉ gây nên được một vết thương ghê rợn. Thánh nữ đã cầu xin để được gặp Đức Giáo hoàng Urbanô đến lo linh hồn mình. Ngài còn sống được 3 ngày, được gặp Đức Urbanô, rồi lãnh triều thiên thiên thần đã hứa. 

Các Kitô hữu chôn táng Ngài và tôn trọng thái độ lúc Ngài tắt hơi, đầu không cúi gục như bông hao không tàn. 

Hơn một nghìn năm sau, người ta thấy trong hang toại đạo một thi thể được coi như là của Cêcilia, huyền thoại kể lại và nghệ sĩ trẻ Maderna tạc tượng đã nghĩ đây là tuyệt phẩm của ơn thánh. 

Vào thế kỷ thứ V, một nhà quí phái trùng tên đã dâng nhiều dinh thự làm nhà thờ đặt tên là Cêcilia danh hiệu bà đã được mang.

Ngày 17-11: Thánh Elisabeth Hungari

T3, 17/11/2009 - 01:50
Vị công chúa của nước Hungary này sinh năm 1207. Công chúa kết hôn với Luy, cai trị miền Thuringia, đang khi còn rất trẻ và theo thói thường Ngài lớn lên tại cung điện Thuringia.

Elisabeth xem ra đã được tiền định với niềm vui, được cầu nguyện hãm mình và mỗi ngày hy sinh một điều thích thú. Nếu trong cuộc chơi mà thành công rực rỡ, Ngài không quá vui và ngừng lại. Một phần những cái người ta cho Ngài thường là tới tay người nghèo. Nhưng Ngài sớm thấy một đau khổ khác, không phải mọi người đều vui lòng khi thấy Ngài lớn lên trong đạo đức, tốt lành và quảng đại như vậy. Công chúa Sophia, mẹ của Luy tức giận vì sự hoàn thiện này. Khi bà dẫn Elisabeth với cô con gái mình tới nhà thờ, cả hai trang điểm như công chúa thì Elisabeth lại cởi vương miện bằng đá ra mà nói không muốn mang nó đến trước Thiên Chúa phải đội mão gai. Thế là công chúa và con mình khinh bỉ và tuyên bố rằng: Ngài bất xứng để làm vợ của bá tước. Nhưng khi Luy đã trở lại triều đình chàng ngây ngất vì vị hôn thê trẻ của mình. Chàng chọn làm châm ngôn những đức tính: đạo đức, trong sạch và công bình. Chàng đã cử hành hôn phối sớm hết sức có thể, lúc chàng 20 và nàng 14. Năm sau họ có con đầu lòng và 2 năm sau nữa sinh con thứ. Các đày tớ của thánh nữ nói về Ngài: “Bà kêu đến Chúa trong mọi hành vi, bà sống khiêm tốn, rất bác ái và say mê cầu nguyện”. Ngày sống của nữ bá tước được phân phối cho công việc cầu nguyện, làm việc bác ái, cùng với các phụ nữ dệt len cho người nghèo. Rảo quanh các làng quê phân phát các đồ cứu trợ. Luy, một hiệp sĩ hào hùng, rất lịch thiệp, là bạn trung thành nâng đỡ Elisabeth trong đường thánh thiện Ngài đeo đuổi. Ông yêu vợ có khuôn mặt và tâm hồn dịu hiền của mình. Người ta thích kể lại một huyền thoại làm đẹp cuộc đời thánh nữ như sau:

Vào một ngày mùa đông. Luy đi săn về gặp vợ cong mình xuống dưới sức nặng các đồ ăn giấu trong vạt áo. Ông hỏi:
- Em mang gì đó?

Vạch áo ra ông chỉ thấy những bó hoa tráng hồng rất đẹp không mùa xuân nào có được. Vị bá tước xúc động vì phép lạ, Ngài ưu ái người vợ lý tưởng của mình hơn nữa. Còn chính thánh nữ thì tăng gấp việc bác ái. Ngài săn sóc các bệnh nhân nghèo, cấp đồ ăn cho họ, băng bó các vết thương. Vào một ngày thứ năm tuần thánh, Ngài đã hôn chân các người cùi Ngài tập hợp lại. Dưới những chiếc áo sang trọng, Ngài dấu một chiếc áo nhặm. Không ai nghi ngờ sự khắc khổ của Ngài. Isentrude, người đày tớ theo Ngài và có nhiệm vụ đánh thức Ngài ban đêm để cầu nguyện làm chứng:
“Ngài hoàn thành những công trình bác ái trong tâm hồn vui tươi và không đổi nét mặt”.

Chính Elisabeth đã nói về những người nhân đức mà mặt mày ủ dột: “Họ có vẻ muốn làm khiếp đảm Thiên Chúa nhân lành. Trong khi Ngài yêu thích những kẻ cho một cách vui tươi”.

Luy phải ra trận. Đây là lúc nữ bá tước đau đớn nhất và tăng gấp lời cầu nguyện và đánh tội. Thánh nữ vẫn thường bối rối lo sợ có những bất công mà lãnh Chúa thường gặp phải. Gặp người nghèo, thánh nữ nhiệt thành nâng đỡ họ. Phân phát hết lúa gạo dự trữ, Ngài hy sinh cả nữ trang và đá quí, Ngài thiết lập những nhà thương. Dân chúng gọi Ngài là “mẹ”. Khi chồng trở về, thánh nữ thường cười nói:
- Em đã dâng cho Thiên Chúa cái thuộc về Ngài bảo vệ của cải của chúng ta.

Nhưng đã đến lúc những thử thách lớn lao đưa Elisabeth tới đỉnh cao thánh thiện. Luy tham gia đoàn quân thánh giá và vong mạng năm 1227. Vài ngày sau thánh nữ sinh hạ người con thứ ba. Ngài như điên lên vì đau đớn, nhưng đã chứng tỏ lòng đại độ từ bỏ thánh nữ đã có từ buổi thiếu thời. Hình ảnh cổ truyền còn diễn tả thánh nữ, bị người em bất xứng của Luy xua đuổi và cấm dân chúng không được cho trú ngụ, khóc lóc ôm con nhỏ đi vào đường mòn sỏi đá giữa mùa đông lạnh lẽo với hai người con níu bên tay... Thực tế là người em rể đã một thời không cho Ngài được thừa hưởng của cải của chồng Ngài. Elisabeth từ chối mọi thỏa hiệp với ông ta và không muốn nhận được cấp dưỡng bằng cái Ngài coi là của cấp của dân nghèo. Ngài thích được rẫy bỏ hơn và tự kiếm kế sinh nhai. Như thế với lương tâm Kitô giáo Ngài đã chọn được nên nghèo khó. Thực vậy, Ngài đã phải trú ngụ trong một chuồng heo cũ và đã biết khốn cực là gì. Người đày tớ theo Ngài kể rằng: 
- “Bị bắt bớ bởi những chư hầu của chồng, thiếu mọi thứ của cải và vì thiếu thốn, Ngài đã phải gửi con đến những miền xa để chúng được nuôi dưỡng ở đó.

Dầu vậy, Ngài vẫn cảm tạ Chúa và đã bóc lột Ngài như thế, và trong một nguyện đường các anh em hèn mọn Ngài đã đặt tay lên bàn thờ thề hứa từ bỏ tất cả.
Cậu của Ngài là Giám mục miền Bamberg rất muốn Ngài tái giá và còn gọi Ngài tới lâu đài Haute Francoine nơi đặt các xương cốt của chồng Ngài. Nhận xương cốt, Ngài nguyện vâng phục và tạ ơn Thiên Chúa.
“Lạy Chúa, con yêu biết bao. Nhưng Chúa biết con không hối tiếc việc hy sinh người yêu của con cho Chúa. Anh đã tự hiến mình cho Chúa, con cũng hiến dâng anh con cho Chúa để yểm trợ thánh địa. Nếu được con cho cả thế giới để đổi lấy anh, rồi chúng con cùng đi ăn xin với nhau. Nhưng con xin chứng tỏ rằng: nếu trái với ý Chúa, con sẽ không muốn chuộc lại sự sống của anh, cả đến sợi tóc đi nữa... Nguyện ý Chúa thành sự trong chúng con”.

Người góa phụ trẻ không muốn có phần gì đối với vinh hoa trần thế nữa, đã mặc áo dòng ba Phanxicô và dùng tiền của chồng để lại để điều hành một nhà thương là nơi bà ngồi ăn chung với các bệnh nhân nghèo khó. Sau cùng Ngài ở trong một ngôi nhà bằng cây vách đất. Ngài dệt vải để nuôi thân và chịu những hy sinh cực khổ hơn nữa. Cha giải tội của Ngài là Conrad thấy sự diụ hiền của Ngài có vẻ tạo nên cảm tình của hai người bạn từ hồi trẻ và nay theo Ngài, nên không cho Ngài giữ họ gần mình nữa. Thay vào đó là một đứa trẻ vô giáo dục và một bà điếc lác khó chịu. Elisabeth đối xử với họ cách âu yếm như với bạn bè và dành lấy những công việc gớm ghiếc nhất.

Một đứa trẻ bất toại Ngài săn sóc bắt Ngài thức dậy mỗi đêm sáu lần và chính Ngài giặt giũ áo quần hôi hám của nó. Khi đứa trẻ chết, Ngài thay vào đó một dứa trẻ phong cùi và nói:
- Tôi không đang cởi giây giầu cho em. Đối với tôi Chúa Giêsu đang ở vào đại vị của em.

Đứa trẻ chết, lại một người bị bệnh trứng tóc sống bên Ngài. Vị hướng dẫn còn dùng đến những cư xử nghiệt ngã lạ lùng. Nhà chép sử nói rằng: “ông ta có thể đánh vào mặt Ngài, nhưng thánh nữ đủ mạnh để chịu dựng như một người đang chiêm niệm. Ngài qua những giờ ngây ngất và nét mặt trở bên rực sáng. Nhưng Elisabeth yếu dần và qua đời lúc mới 24 tuổi, vào ngày 19 tháng 10 năm 1231. Từng đoàn người lũ lượt hành hương kính viếng mộ Ngài và đã có rất nhiều phép lạ xảy ra tại đó.

Bốn năm sau Đức Giáo Hoàng Grêgoriô IX đã tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

Ý thức được tầm quan trọng của vị Giám Mục Rôma, và của Giáo Hội lữ hành như dấu chỉ sự hiện diện của Ðức Kitô trong trần thế, Thánh Lêo Cả đã hết sức tận tụy trong vai trò của một giáo hoàng. Ðược chọn làm "đấng kế vị Thánh Phêrô" vào năm 440, ngài làm việc không ngừng, hướng dẫn các giám mục dưới quyền như "những người ngang hàng về quyền bính cũng như sự yếu đuối con người."

Thánh Lêô nổi tiếng là một trong các giáo hoàng giỏi về quản trị trong thời Giáo Hội xưa. Sự nghiệp của ngài được chia ra làm bốn lãnh vực chính, chứng tỏ ngài có cái nhìn chính xác về trách nhiệm tổng quát của một giáo hoàng đối với đàn chiên của Ðức Kitô. Thứ nhất, ngài kiên trì chống với bè rối Pelagian, Manichae và các bè rối khác, ngoài ra ngài cũng áp đặt các quy luật để duy trì sự chân thực của đức tin Kitô Giáo. Lãnh vực thứ hai mà ngài lưu tâm là sự mâu thuẫn với Giáo Hội Ðông Phương về bản tính của Ðức Kitô mà ngài đã giải quyết bằng thư từ. Thứ ba, với đức tin mạnh mẽ, ngài còn lãnh đạo Rôma chống lại sự tấn công của quân man rợ, xứng đáng với vai trò bảo vệ hòa bình.

Sự nghiệp của Ðức Giáo Hoàng Lêô luôn được đề cao trong ba lãnh vực này. Ngoài ra, sự thánh thiện của ngài dựa trên nền tảng tâm linh sâu xa mà qua đó ngài thi hành công tác mục vụ cho đoàn chiên là lãnh vực thứ tư mà ngài hằng lưu tâm. Ngài nổi tiếng về những bài giảng thật sâu xắc. Là một khí cụ mời gọi mọi người nên thánh, được thấm nhuần Phúc Âm và luôn ý thức đến Giáo Hội, Ðức Lêô đã đáp ứng được những nhu cầu tâm linh của các tín hữu thời ấy.
Ngài từ trần năm 461, để lại nhiều văn bản và thư từ có giá trị lịch sử.

Lời Bàn

Khi có những chỉ trích về cơ cấu Giáo Hội, thì chúng ta cũng được nghe nói rằng các giám mục, linh mục -- có thể nói, tất cả chúng ta -- đã quá bận tâm với kiểu cách hành chánh theo thói đời. Ðức Giáo Hoàng Lêô là gương mẫu của một người quản trị biết dùng tài năng của mình trong các lãnh vực mà cơ cấu và tinh thần không thể tách biệt: đó là vấn đề giáo lý, công việc mục vụ và sự hài hòa. Ngài tránh cảnh "đi trên mây," sống mà không có thân xác, nhưng ngài cũng như tránh cảnh "quá thực tế," chỉ lo cho những sự bề ngoài.

Trích từ NguoiTinHuu.com

1579 là niên biểu ghi nhớ ngày sinh ra của Martinô ở Lima, Pêru con của một người mẹ da đen và của một người cha hiệp sĩ và 1639 là niên biểu ghi nhớ ngày qua đời của thánh nhân. Sáu mươi năm giữa hai niên biểu này là khoảng thời gian Martinô tiến tới miền ánh sáng, trong sự khiêm tốn và hiến mình trọn vẹn để phục vụ các bệnh nhân. 
Cuộc tình của cha mẹ Ngài không suông sẻ lắm, vì màu da của mẹ Ngài đã đưa đến những hất hủi không những cho bà mẹ mà còn cho cả những đứa con xấu số của bà nữa. Nhưng hoàn cảnh đen tối ấy, Martinô lại coi như nén bạc trao tay để Ngài sinh lời, thành bông hoa khiêm tốn tuyệt vời.

Hồi còn là một thiếu niên, Martinô đã chứng tỏ lòng bác ái đầy khiêm tốn phục vụ của mình. Hôm ấy khi theo chị mang thức ăn cho gia đình, Ngài nghe thấy tiếng rên rỉ của một bà lão người da đỏ. Dừng lại Ngài kinh hãi khi thấy một người lính Tây Ban Nha đang hành hạ lão. Đầy thương cảm, cậu thiếu niên Martinô cúi xuống lão già người da đỏ. Nhưng ông thù ghét cự tuyệt: Thằng nô lệ... mày đen đủi. Bọn da đen tụi mày là kẻ thù của dân da đỏ. 

Nhưng người thiếu niên da đen này đã không bỏ cậu đi. Cậu nói chuyện với lão già da đỏ cách dịu dàng đến nỗi lão đã thú nhận là ba ngày rồi không ăn thứ gì vào bụng lại chẳng có con cháu gì cả. Martinô đã khóc và đưa tất cả thực phẩm cả ngày đã mua được cho lão già. 

Vào thời đó, chỉ cần học một chút nghề cạo gió, cắt lể như Martinô đã học thì đã được coi là đủ để chữa nhiều loại bệnh, như Martinô đã săn sóc các bệnh nhân. Và các con bệnh có thể là loài người hay loài vật, bởi vì mọi loài đau khổ đều có quyền được người bạn da đen này khiêm tốn tận tình săn sóc. Ngài đã chữa lành một con gà tây gẫy giò. Người ta còn nói rằng: Ngài đã làm cho nhiều con vật sống lại. 

Vào tuổi 15, Ngài nhập dòng Daminh như một thầy dòng ba. Thầy thích làm những việc khiêm tốn đến độ đã được biệt danh là "thầy chổi". Tại nhà dòng Đức bà Mân Côi, Ngài vẫn tiếp tục nghề thuốc của mình với một đức ái nhẫn nại vô bờ, như là một y tá của nhà dòng. Ngài kín múc sức mạnh trong kinh nguyện và khổ hạnh, vừa dấu mình làm việc và lần hạt Mân côi, thức đêm để cầu nguyện rồi ngủ trên cái cáng dùng khiêng xác chết. 

Trong dòng Ngài cũng vẫn tiếp tục lấy tình yêu để đáp lại những bất công. Một bệnh nhân giận dữ với Martinô, nhưng Ngài đã êm ái nói với họ: - Anh giận dữ phải lẽ lắm, nhưng cơn giận có thể gia tăng cơn bệnh của anh. Hãy dùng món ăn anh thích này đi và tôi thoa bóp chân cho anh. 

Ngài không hề bất nhân, nhưng lại càng lo lắng săn sóc nhiều hơn cho những người tỏ ra độc ác bất công như Ngài. 

Martinô đã từ chối không lãnh chức linh mục để có thể tiếp tục làm đày tớ mọi người. Để thưởng lòng trong trắng, đức bác ái và sự khiêm tốn, Thiên Chúa đã ban cho Ngài ơn chữa bệnh, nói tiên tri và làm nhiều phép lạ. Ngài qua đời trong hương thơm thánh thiện năm 1639. 

Cuộc điều tra phong thánh cho Ngài đã sớm khởi sự từ năm 1657, nhưng mãi 200 năm sau, năm 1837, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XVI mới phong Ngài lên hàng chân phước và 100 năm sau nữa, ngày 6 tháng 5 năm 1962, Đức giáo hoàng Gioan XXIII phong Ngài lên bậc hiển thánh. Hương thơm thánh thiện của Ngài quả là không thể tan loãng theo thời gian.

Ngày lễ đầu tiên trong lịch sử để vinh danh các thánh là ngày tưởng niệm "các vị tử đạo" được cử hành vào đầu thế kỷ thứ tư. Vào đầu thế kỷ thứ bảy, sau làn sóng trộm cắp đột nhập các hang toại đạo, Ðức Giáo Hoàng Boniface IV đã cho thu lượm khoảng 28 toa đầy những hài cốt và chôn cất lại bên trong đền Pantheon, là đền thờ các thần của người La Mã, và ngài thánh hiến đền thờ này như một đền thờ Kitô Giáo. Theo sử gia của Giáo Hội là Bede Ðáng Kính, đức giáo hoàng có ý định rằng "việc tưởng nhớ các thánh trong tương lai có thể thay cho việc thờ phượng mà trước đây không được dành cho thần thánh nhưng thờ ma quỷ" (Về Việc Tính Toán Thời Giờ)
Nhưng việc thánh hiến đền Pantheon, cũng như ngày kính nhớ đầu tiên các vị tử đạo xảy ra vào tháng Năm. Nhiều Giáo Hội Ðông Phương vẫn kính nhớ các thánh vào mùa xuân, hoặc trong mùa Phục Sinh hoặc ngay sau lễ Hiện Xuống.

Tại sao Giáo Hội Tây Phương cử hành lễ này vào tháng Mười Một thì không ai hiểu. Người ta chỉ biết vào năm 800, thần học gia Alcuin người Anglo-Saxon cử hành lễ này vào ngày 1 tháng Mười Một, và người bạn của ông là Arno, Giám Mục của Salzburg cũng theo như vậy. Sau cùng, trong thế kỷ chứ chín, Giáo Hội La Mã đã chấp thuận ngày lễ này.

Lời Bàn

Ðầu tiên lễ này để kính nhớ các vị tử đạo. Sau này, khi Kitô Hữu được tự do tín ngưỡng, Giáo Hội đã dùng ngày lễ này để tỏ lòng kính trọng những người thánh thiện. Vào các thế kỷ đầu tiên, được coi là thánh thì chỉ cần một tiêu chuẩn là được nhiều người công nhận, ngay cả việc chấp thuận của vị giám mục cũng được coi là bước sau cùng để đưa vào niên lịch Giáo Hội. Việc phong thánh bởi đức giáo hoàng lần đầu tiên xảy ra vào năm 973; ngày nay việc phong thánh đòi hỏi cả một tiến trình lâu dài để chứng minh các đức tính thánh thiện. Bây giờ, lễ các thánh để kính nhớ các vị thánh vô danh cũng như nổi danh.

Lời Trích

"Sau đó, tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế...

[Một trong các kỳ mục] bảo tôi: "Họ là những người sống sót sau thời gian thử thách lớn lao; họ đã giặt sạch và tẩy áo mình tinh nguyên trong máu Con Chiên.'" (Khải Huyền 7:9, 14).

Trích từ NguoiTinHuu.com

Thánh PHANXICÔ ASSISI

Người Anh Em Hèn Mọn 


( Lễ kính 4/10/14 )


Theo truyền thuyết, một người lạ đến nhà bảo bà Pica hãy tới một chuồng bò để hạ sinh đứa trẻ tại đó. Là người giàu có sang trọng, bà giật mình vì ý kiến đó. Nhưng sau nhớ lại chính Chúa Ki-tô cũng đã sinh ra nơi chuồng bò, đồng thời có sức nhiệm mầu thúc đấy, nên bà đã thực hiện như lời đề nghị của người lạ. Đó là năm 1182, Phanxicô thành Assisi cất tiếng khóc chào đời tại chuồng bò, cũng như Con Thiên Chúa đã giáng sinh trong máng cỏ nơi hang đá Belem.


Phanxicô lớn lên giữa giàu sang và yêu đời. Ba má rất hài lòng khi thấy chàng ở giữa những cuộc vui chơi vô tội. Chàng rất thích hình ảnh một hiệp sĩ lực lưỡng với khí giới và áo giáp bóng loáng. Do đó, khi được mời tham gia cuộc chiến giữa người Assisi và Perugia, chàng mừng quýnh. Nhưng chẳng may khi giáp trận, bên Assisi bị thua và chàng bị bắt làm tù binh. Khi Phanxicô trong tù, chàng chiêm bao và tiếng nói vô hình cho biết một ngày kia chàng sẽ nổi danh và được yêu mến trên khắp thế giới. Vịn vào giấc chiêm bao đó, Phanxicô nghĩ mình sẽ trở thành chiến sĩ anh hùng. Sau khi được trả tự do, chàng vẫn còn tin tưởng mình sẽ thành một tướng lãnh tài ba. Nên khi cuộc nổi dậy chống đế quốc Đức xâm lăng Ý, chàng liền xin nhập ngũ. Nhưng chỉ sau 1 ngày theo đoàn kỵ binh lên đường, bệnh cũ tái phát. Tiếng nói vô hình lại đến với chàng trong giấc mơ và còn cho hay chàng đã hiểu lầm giấc chiêm bao trước kia, vì chàng đang phục vụ như người đầy tớ chứ không phải ông chủ. Tiếng nói thúc giục chàng trở về chờ đợi đại cuộc sẽ được trao phó. Về nhà, bạn bè cười nhạo chàng vì nói nhiều cũng không làm được việc gì. Phanxicô chỉ cười và cuộc sống chàng bắt đầu thay đổi.


Vốn là người quảng đại, chàng thường mau lẹ giúp đỡ người nghèo khổ. Nhưng lúc này chàng nhận thức được rằng bằng đó cũng chưa đủ và phải làm gì hơn nữa. Chàng cảm thấy phải trao ban chính mình, thời giờ và sức 


Khỏe, vì chiếm hữu của cải là sự phiền toái. Nên chàng bán mọi thứ mình có rồi phát tiền cho người nghèo khó bệnh hoạn .


Phanxicô hay đến cầu nguyện trước tượng Chúa Chuộc Tội tại nhà thờ thánh Đamiêng, một ngôi nhà thờ cũ nát.


Một hôm, tượng Chuộc Tội từ trên Thánh Giá nói với chàng :


- Phanxicô ơi ! Nhà Cha đang đổ xuống, con hãy xây dựng lại !


Sung sướng vì Chúa phán dạy, chàng trao số tiền còn lại cho cha sở trước sự ngỡ ngàng của ngài. Sau đó, chàng về lấy vải của tiệm cha mang bán. Cha chàng bắt gặp và ông nổi giận vì hành động điên rồ của chàng và từ bỏ chàng.


Phanxicô một thanh niên quí phái giàu có, lúc này trở thành vô gia cư, quần áo rách rưới, đi xin ăn từ nhà này sang nhà khác. Nhưng chưa khi nào chàng cảm thấy hạnh phúc như lúc này, vì tràn ngập tình yêu Chúa và tình yêu thương đồng loại. Chàng yêu cả chim muông, dã thú, cây cối và hoa cỏ đồng nội, yêu gió mưa và yêu ánh sáng vầng dương. Vì tất cả là tạo vật của Thiên Chúa và phô bày sự tốt lành của Ngài. Chàng càng chăm chỉ tận tụy làm việc quên mình để phục vụ tha nhân.


Sau khi hoàn tất việc sửa sang nhà thờ thánh Đamiêng, Phanxicô khởi công tu bổ nhà nguyện thánh Phêrô. Sau đó chàng lại thấy nhà thờ Đức Bà Thiên Thần bị bỏ hoang, chàng tự tay kéo đá trộn hồ sửa sang lại. Khi Thánh lễ đầu tiên dâng trong nhà thờ Đức Bà mới trùng tu, tiếng nói vô hình lại đến với chàng. Lần này lệnh truyền cho chàng hãy đi rao giảng khắp miền thôn quê. 


Khi Phanxicô bắt đầu giảng cho dân chúng vùng Assisi người ta nhạo cười chàng. Vì tò mò họ đổ xô ra xem chàng như một người điên, nhưng sau đó họ cảm động với lời chàng, rồi không lâu sau có một số người xin làm môn đệ.


Họ dựng chòi quanh nhà thờ Đức Bà. Hàng ngày họ chia nhau đi làm từng nhóm : làm vườn, đi đổi hàng, đi quyên góp, nhóm rao giảng và dạy dân chúng. Cộng đoàn ngày càng lớn mạnh. Phanxicô viết bản luật dòng thật ngắn gọn để hướng dẫn cuộc sống anh em trong cộng đoàn mà chàng đặt tên là ‘Anh Em Hèn Mọn’


Nhiều lần Thiên Chúa đã làm phép lạ để chứng tỏ Ngài yêu Phanxicô chừng nào. Như lần kia, Phanxicô đang giảng cho dân chúng, thì đàn chim đậu trên các cây gần đó kêu inh ỏi, át cả lời giảng, Ngài hướng về đàn chim xin các ‘chị’ đừng làm ồn để mọi người nghe giảng Lời Chúa. Lập tức đàn chim im tiếng. Chờ đến khi Ngài giảng xong bày chim sà xuống chung quanh, đậu trên vai và cánh tay Ngài. Rồi Ngài giảng cho chúng nghe về tình yêu bao la Thiên Chúa đối với các tạo vật.


Hội dòng Anh Em Hèn Mọn ngày một phát triển, lan rộng và càng đông người xin gia nhập. Các tu sĩ được cử đi truyền giáo tận Phi Châu, Á Châu, nhiều người được diễm phúc tử vì đạo. Phanxicô không chỉ tu bổ những nhà thờ gạch đá, nhưng Ngài tu sửa và xây dựng chính Giáo Hội sau những ngày hoang tàn đổ nát.


Năm 1224, Chúa in 5 Dấu Thánh vào tay chân và cạnh sườn Phanxicô. Hai năm sau Ngài lâm bệnh và bị mù cả hai mắt. Trước giờ chết Ngài khuyên anh em trong hội dòng giữ vững tinh thần Nghèo Khó. Ngài xin anh em để mình nằm chết trên đất, xác phủ bằng chiếc áo dòng cũ, rồi trút hơi thở cuối cùng ngày 4/10/1226.


Chỉ hai năm sau Ngài được phong Hiển Thánh. 


Sau đây xin trích dẫn 2 bài ca nổi tiếng nhất của Thánh Phanxicô Assisi :


*Kinh Hòa Bình.


Bài Kinh phổ biến khắp nơi, đặc biệt là trong cộng đồng Công Giáo, thường được hát lên trong Thánh Lễ hay những buổi thắp nến cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình.


‘Lạy Chúa từ nhân!

Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

Lạy Chúa! Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa.


Để con đem yêu thương vào nơi oán thù,


Đem thứ tha vào nơi lăng nhục,

Đem an hòa vào nơi tranh chấp,

Đem chân lý vào chốn lỗi lầm.
Để con đem tin cậy vào nơi nguy nan,
Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng.
Để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm,
Đem nguồn vui đến chốn u sầu.
Lạy Chúa! Xin hãy dạy con,
Tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết.
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu,
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh.
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ.
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.
Ôi! Thần Linh Thánh Ái! Xin mở rộng lòng con.
Xin ban xuống những ai lòng đầy thiện chí ơn An bình.’ 


*Bài Ca Mặt Trời.


Thánh Phanxicô Assisi nổi bật về nhân đức khó nghèo. Ngài còn là một nhà thơ được ca tụng với nhiều áng thơ đặc sắc, trong đó nổi nhất là bài ‘Ca Mặt Trời’. Bài thơ không nhằm ca tụng các tạo vật, nhưng để ca tụng Đấng tạo ra chúng. (Bài thơ này đã được nhạc sư Hải Linh phổ nhạc)

‘Lạy Đấng Tối Cao toàn năng và nhân ái,

Xin ca ngợi, tôn vinh và chúc tụng!

Chỉ mình Ngài xứng muôn lời hoan chúc.

Xướng tên Ngài, nào ai xứng đáng đâu.

Chúc tụng Ngài, lạy Chúa với muôn loài.


Anh Mặt Trời cho ngày đến với tôi,

Chúa nhờ anh soi sáng hết muôn loài,


Anh thật đẹp, thật huy hoàng rực rỡ,

Ý nghĩa này Chúa nhờ anh mang đến.


Chúc tụng Chúa chị Trăng với các Sao,


Chị quí giá, sáng ngời và xinh đẹp.

Chúc tụng Chúa, anh Gió với Mây cao,

Trời bão tố và trời yên bể lặng,


Chúa ban cho để nâng đỡ muôn loài.

Chúc tụng Chúa, vì chị Nước trong lành,

Tuy khiêm tốn mà vô cùng hữu ích.

Chúc tụng Chúa, này anh Lửa soi đêm,

Anh thật đẹp, vui tươi và dũng mãnh.

Chúc tụng Chúa, mẹ Đất của con người,


Nuôi chúng con bằng muôn ngàn cây trái,

Hoa muôn màu và cỏ dại thơm tho.


Chúc tụng Chúa, những ai vì yêu Chúa,


Đã thứ tha và khổ cực đắng cay. 


Diễm phúc thay ai xây dựng hòa bình,


Sẽ được Ngài yêu thương vinh thưởng.


Chúc tụng Chúa, vì chị Chết xác thân,


Không buông tha cho bất cứ người nào,


Khốn cho ai chết chìm trong tội lệ.


Phúc cho ai đang thi hành thánh ý,

Họ sẽ không bị chết tới hai lần.


Xin chúc tụng và ngợi khen Thiên Chúa!


Cảm tạ Ngài và khiêm tốn hiến dâng! ‘


*Tâm Niệm :


Noi gương Thánh Phan-xi-cô,


Chọn đời nghèo khó không mơ sang giàu,


Tình yêu Thiên Chúa nhiệm mầu,

Trùm phủ vạn vật tinh cầu đẹp thay,

Tình yêu Thiên Chúa đắm say,

Quên mình phục vụ đêm ngày tha nhân,

Cuộc đời ngắn ngủi gian trần,

Tình yêu Thiên Chúa hồng ân tràn đầy.

Đinh văn Tiến Hùng

*Ghi chú :


- Trích theo tài liệu ‘ Pocket Catholic Dictionary’ của John A.Hardon,S.J và hạnh tích các Thánh của Raymond Thư, CMC.


- Xin phân biệt 2 vị Thánh cùng tên Phanxixô :

(1) Thánh Phanxicô Assisi người nước Ý, sáng lập dòng ‘Anh Em Hèn Mọn’ hay cũng thường gọi là Dòng Phan Sinh.

(2) Thánh Phanxicô Xaviê người nước Navarra thuộc Pháp, bổn mạng các Xứ Truyền Giáo, đồng sáng lập Dòng Tên cùng với Thánh Inhaxiô (I-Nhã).

NGHE RADIO CÔNG GIÁO

SỨ ĐIỆP

complex{fbig2}/Su Diep Chua Giesu,Su Diep Chua Cha,Su Diep Duc Me

SỐNG ĐẠO

complex{fbig2}/Song Dao,Cac Thanh,Guong Sang,Cau Nguyen

ĐIỀM BÁO

complex{fbig2}/Dau Chi Thoi Dai,Dau Hieu Thoi Cuoi,Diem Bao

GIÁO HỘI

complex{fbig2}/Tin Giao Hoi,Vatican,Giao Hoang

CHIA SẺ

complex{fbig2}/Suy Tu,Chia Se,Suu Tam

ĐỜI SỐNG

complex{fbig2}/Tong Hop, Suc Khoe, Doi Song

NGHE

complex{fbig2}/Audio, Bai Giang, Am Nhac

XEM

complex{fbig2}/Video, Thanh Ca,

ẢNH

[Duc Giao Hoang][gallery2]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.