Bài Viết by "Pope Francis"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Pope Francis. Hiển thị tất cả bài đăng

Nguyện xin Ơn Phân Định và bình an của Chúa luôn ở cùng Bà con mình!

Xin Mẹ Maria, Thánh cả Giuse, Đức Thánh Micae, Thánh Quan Thầy, Thiên Thần Bản Mệnh, các Thánh và các Thiên Thần cùng các linh hồn luyện ngục luôn cầu bầu cho chúng con trước tòa Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Amen.

Bà con xa gần thân mến trong Chúa sắp quang lâm!

"Sự thật sẽ giải phóng anh em" (Ga 8,32).
"Còn việc tên gian ác xuất hiện là do tác động của Xatan, có kèm theo đủ thứ phép mầu, dấu lạ, điềm thiêng, (10) và đủ mọi mưu gian chước dối, nhằm hại những kẻ phải hư mất, vì đã không đón nhận lòng yêu mến chân lý để được cứu độ. (11) Vì thế Thiên Chúa gửi đến một sức mạnh mê hoặc làm cho chúng tin theo sự dối trá; (12) như vậy, tất cả những kẻ không tin sự thật, nhưng ưa thích sự gian ác, thì sẽ bị kết án" (2Tx 2: 9-12).

"Sự thật mất lòng - Nhưng thuốc đắng rã tật" - Các Cụ Việt Nam.

Sau đây con xin được gởi tới bà con mình bài chia sẻ về chủ đề: Tại sao Giáo Hội Công Giáo nói riêng và thế giới nói chung lại có Đức Giáo Hoàng giả? Ai là Đức Giáo Hoàng giả thời cuối này?
Để trả lời cho chủ đề này và nhiều bà con thắc mắc: Sao Giáo Hội lại có giáo hoàng giả được? Chẳng lẽ Thiên Chúa lại có thể để cho điều này xảy ra sao?

Để trả lời cho những câu hỏi trên con xin trích dẫn những đoạn Kinh Thánh, Sứ Điệp Đức Mẹ đã được Giáo Hội công nhận và Thực tế cũng được Giáo Hội và xã hội công nhận để lời chứng của con là chân thật, đáng tin cậy và không ai có thể chối cãi được.

Tóm tắt: Bài này con chia làm 7 phần như sau:

I. Kinh Thánh: Lời chứng của Chúa Giê su và Thánh Gioan
II. Sứ Điệp Đức Mẹ Lasalet
III. Thực Tế
IV. Diễn Giải
V. Sự ứng nghiệm
VI. Kết.
VII. Lời nhắn nhủ.

Nào! Bà con mình đã sẵn sàng chưa? Nếu đã sẵn sàng rồi thì bây giờ chúng ta cùng bắt đầu nhé!
I - Kinh Thánh - Mặc Khải Công

1. Lời chứng của Chúa Giêsu 

A. Kẻ Mạo Danh Thầy
" Người đáp: "Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: "Chính Ta đây là Ðấng Kitô", và họ sẽ lừa gạt được nhiều người." (Mt 24: 4-5).

B. Nhiều Ngôn Sứ Giả
"Sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người" (Mt 24: 11).

C. Kitô giả và ngôn sứ giả
"Bấy giờ, nếu có ai bảo anh em: "Này, Ðức Kitô ở đây" hoặc "ở đó", anh em đừng có tin. (24) Thật vậy, sẽ có những Kitô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn, nếu có thể. (25) Thầy báo trước cho anh em đấy! (Mt 24: 23-25).

D. Phân Biệt Ngôn Sứ Thật Giả
"Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. (16) Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì họ biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? (17) Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. (18) Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt. (19) Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. (20) Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (22) Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?" (23)Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác! (Mt 7: 15 - 23).

2. Lời chứng của Thánh Gioan Tông Đồ

AĐề phòng thế gian và những kẻ phản Kitô. 

Anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi. (5) Các ngôn sứ giả đó thuộc về thế gian, và thế gian nghe chúng. (6) Còn chúng ta, chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Chúng ta cứ dựa vào đó mà nhận ra thần khí dẫn đến sự thật và thần khí làm cho sai lầm. (1Ga 4: 1-6).

B. Đề phòng những kẻ phản Kitô

Đây là giờ cuối cùng. Tên phản Kitô sẽ đến; thế mà giờ đây nhiều tên phản Kitô đã xuất hiện. Do đó chúng ta biết được rằng đây là giờ cuối cùng. (19) Chúng xuất thân từ hàng ngũ chúng ta, nhưng không phải là người của chúng ta; Nhưng như thế mới rõ: không phải ai ai cũng là người của chúng ta. (1Ga 2: 18-20)

C. Nhiều người mê hoặc đã lan tràn khắp thế gian

Vì có nhiều người mê hoặc đã lan tràn khắp thế gian, họ là những kẻ không tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Ðấng đã đến và trở nên người phàm. Ðó là kẻ mê hoặc và là tên phản Kitô. (8) Anh em phải coi chừng để khỏi đánh mất những gì anh em đã làm được, nhưng để lãnh đầy đủ phần thưởng. (9) Phàm ai đi quá xa, không ở lại trong giáo huấn của Ðức Kitô, thì không có Thiên Chúa. Nếu ai đến với anh em mà không đem theo giáo huấn ấy, anh em đừng đón vào nhà và cũng đừng chào hỏi người ấy. (11) Quả thật ai chào hỏi là cộng tác vào những việc xấu xa của người ấy. (2Ga 1: 7-11).

D. Ngôn sứ giả phục vụ Con Thú

(11) Tôi thấy một Con Thú khác từ đất đi lên. Nó có hai sừng giống như sừng chiên, và nói năng như một Con Mãng Xà. (12) Nó thi hành tất cả quyền bính của Con Thú thứ nhất, trước mặt Con Thú ấy, và làm cho đất, cũng như những người sống trên mặt đất, thờ lạy Con thú thứ nhất, mà vết tử thương đã được chữa lành. (13) Nó làm những dấu lạ lớn lao, khiến cho ngay cả lửa từ trời cũng rơi xuống đất trước mặt người ta. Nó bắt mọi người, nhỏ cũng như lớn, giàu cũng như nghèo, tự do cũng như nô lệ, phải thích dấu trên tay hữu hoặc trên trán. (17) Không ai có thể mua bán, nếu không mang dấu thích đó, tức là con số tương đương với tên nó. Ai có trí thông minh hãy tính ra số của tên Con Thú, vì đó là số của tên một người, và số của tên người ấy là sáu trăm sáu mươi sáu. (Kh 13:11-18).

II - Sứ Điệp của Chúa và Đức Mẹ - Mặc Khải Tư đã được Giáo Hội công nhận

1. Sứ Điệp Đức Mẹ Lasalete

Thế gian sẽ có Đức Giáo Hoàng giả, tiên tri giả và nhiều kẻ như thế để phỉnh gạt nhân dân.

H.- Việc Giáo Quyền trở nên những ngôi sao lạc hướng có tiên báo sẽ có bè rối chăng?

T. – Giáo Quyền hiện nay nếu bỏ cầu nguyện bỏ nếp sống đạo đức siêu nhiên, chối các phép lạ, sẽ tự rơi vào bè rối mà con thấy hiện nay trong các Giáo Hội cấp tiến và cả trong những nghệ thuật quá tân thời.

ĐIỀM BÁO VII.- “ Năm 1864 Luxiphe với một số đông các quỷ sẽ được phóng ra khỏi hỏa ngục và sẽ pháĐức Tin dần dần. Cả Đức Tin của những người đã hiến dâng mình cho Chúa. Quỷ sẽ làm cho HỌ ra mùquáng đến nỗi nếu không có ơn Chúa đặc biệt họ sẽ hướng theo tinh thần quỷ Satan, nhiều tu viện mất cảĐức Tin và mất nhiều linh hồn.

H.- Nói rằng năm 1864 có phải là Mẹ có ý đến điềm báo này để được thực hiện cả rồi chăng?

T.- Mới chỉ bắt đầu thực hiện, điềm đó xẩy ra cho tới đời con bây giờ rồi dần dần CÁC GIÁO SỸ BỎ ĐỨCTIN, BỎ CẦU NGUYỆN và quỷ Satan sẽ dùng mọi mưu chước thâm độc để cho các vị bỏ nhiệm vụ TÔNG ĐỒ, và rồi dần dần sống đời rất đê tiện.

H.- Có phải chính bè nhiệm gây ra việc đó chăng?

T.- Phần lớn do bè nhiệm gây nên. Hiện nay bè nhiệm có hầu hết khắp nơi và nhất là trong các nước Pháp, Ý, Bỉ, Mỹ.

H.- Có phải để chống lại những người đã dâng mình cho Chúa nhưng đã bị quỷ Luxiphe mua chuộc màđiềm báo thứ 7 lưu ý Đức Giáo Hoàng phải đề phòng chăng?

T.- Thế gian sẽ có Đức Giáo Hoàng giả, tiên tri giả và nhiều kẻ như thế để phỉnh gạt nhân dân. Đức GiáoHoàng sẽ bảo các tìn hữu đề phòng và đừng tin theo những hạng người ấy.

ĐIỀM BÁO VIII: Trong năm 1865 người ta sẽ suy đồi thậm tệ trong đền Thánh, những bông hoa thơm củaGiáo Hội ở trong các tu viện hư thối và quỷ trở nên Vua trị các tâm hồn, NHỮNG TU VIỆN TRƯỞNG PHẢI THẬN TRỌNG khi nhận các tu sinh. Vì quỷ sẽ dùng mọi mưu mô xảo trá để đưa những người DÂM Ô TỘI LỖI VÀO CÁC DÒNG TU mà làm điều hỗn loạn. Và DÂM Ô đang lan tràn khắp nơi trên mật đất.

H.- Có phải bè nhiệm tổ chức nên những ghê gớm trong nơi Thánh không?

T.- Bè nhiệm sẽ tổ chức cách chung, nhưng chính Satan sẽ hành động trực tiếp trong tâm hồn người phạmtội.

H.- Những dòng tu nào bị thiệt hại hơn cả?

T.- Hầu hết các dòng tu hiện thời.

III - Thực Tế 
Tất cả sự việc này đã, đang và sắp xảy ra, là để ứng nghiệm Kinh Thánh và các Sứ Điệp.

Thế là chúng ta đã rõ, tính từ khi Chúa về trời cho đến ngày Chúa trở lại lần hai thì thế gian này và ngay trong lòng Giáo Hội sẽ xuất hiện "nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người".
Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào thực tế để tìm hiểu xem sự ứng nghiệm của Kinh Thánh và các Sứ Điệp.

1. Giám mục giả Giuda Iscariot

Ngay từ khi Chúa chọn 12 Thánh Tông Đồ, đã xuất hiện ngôn sứ giả, "giám mục giả ", tiên tri giả rồi. Chúng ta biết ngay đó là "ngôn sứ" Giu đa Iscariot hay còn gọi là "giám mục" Giu đa Iscariot. Kẻ đã phản bội thầy bằng cách bán Thầy mình 30 đồng bạc cho các nhà lãnh đạo Do thái thời đó.

Chúng ta thấy Giu đa Iscariot là tông đồ được Chúa chọn đứng thứ 12 hay còn gọi là đứng cuối. Là ngôn sứ giả hay chúng ta gọi là giám mục giả đầu tiên.

Vậy thì chúng ta phải đề phòng hết sức. Vì là thời cuối nên thật giả lẫn lộn. Trong 12 Tông Đồ đã chẳng có Giuđa (đứng cuối - 12) phản bội Chúa là gì? 
Chúng ta hãy nhớ lại Việt Nam có câu: "Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó". Ai được ơn Chúa soi sáng sẽ nhận ra sự thật này và dám chấp nhận Sự Thật này.

Giả ở đây là được Chúa chọn nhưng lại phản bội Chúa. Giống như kiểu Giáo hoàng được Chúa chọn và được các hồng y bầu lên nhưng lại phản bội Chúa, không làm theo luật Chúa dạy như là: Sự gì Thiên Chúa đã liên kết loài người không được phân ly... mà giáo hoàng cứ phân ly thì ta gọi đó là Giáo hoàng giả.

Tiếp tục với lịch sử của Giáo Hội công giáo, chúng ta thấy đã xuất hiện hàng tá ngôn sứ giả.
Nhiều quá! Ôi con không thể kể hết được, nếu bà con mình muốn biết nhiều xin đọc cuốn: Lịch sử Giáo Hội Công Giáo và cuốn 265 triều đại giáo hoàng tại các nhà sách.

1. 2: Tổng Quát Lịch Sử Giáo Hội

Biên niên sử Giáo hội Công giáo Rôma ghi lại nhiều sự kiện xảy ra trong lịch sử Giáo hội Công giáo Rôma trải dài gần hai nghìn năm, song song cùng lịch sử Kitô giáo.

Các cuộc ly giáo dần dần phá hủy khối hiệp nhất của Kitô giáo, dẫn đến sự xuất hiện của những giáo phái mới (ví dụ: Giáo phái Arianism ra đời năm 318), đặc biệt, hai sự kiện ly giáo lớn nhất đó là Ly giáo Đông - Tây (1054) cho ra đời Giáo hội Chính thống giáo Đông phương và Cải cách Kháng Cách (1517) cho ra đời các giáo phái thuộc khối Tin Lành.

2. Đi vào chi tiết:

2.1: Ngôn sứ giả Alexandrie - Kết quả: Giáo phái Arianism ra đời năm 318

Ngôn sứ giả này chúng ta nên biết là: linh mục Alexandrie, với sự phổ biến tư tưởng của Arius, cuối cùng Giáo phái Arianism ra đời năm 318.
Ngôn sứ giả này đã bị Đức Giám mục Alexander thành Alexandria rút phép thông công năm 318.

Xin đọc bài: 

2.2: Ngôn Sứ Giả Eutyches - Kết quả: Chính thống giáo phương đông ly giáo

Ngôn sứ giả Eutyches, là bề trên của một đan viện ở Constantinople, đã đi quá xa – mà có lẽ do quá khích nên ông đã từ chối “công thức hoà giải” năm 433 và chủ trương nhất tính thuyết. Ông ta cho rằng việc Đức Giêsu đau khổ chỉ mang tính hình thức, giả vờ thôi, chứ thực chất Ngài không đau khổ. Và rốt cuộc, ông cũng cho công cuộc cứu độ của Chúa Kiô tan theo mây khói.
Ông bị rút phép thông công. Eutyches dẫn đến việc Chính thống giáo phương đông ly giáo.

Xin đọc: 

2.3: Ngôn Sứ Giả Clement VII - Kết quả: Giáo hoàng giả

Ngôn sứ giả này có tên là Jules de Médicis. 

Năm 1378: Giáo hoàng giả Clement VII được bầu ra nhằm chống lại Giáo hoàng Urban VI.

Các Hồng Y người Pháp ở Avignon bầu một ngụy Giáo Hoàng (antipope) lên ngôi và lấy danh hiệu là Clement VII để tranh ngôi Giáo Hoàng với Đức Urban VI ở Rôma . Và đây là nguyên nhân gây ra cuộc ly giáo Tây Phương trong Giáo Hội, kéo dài từ năm 1378 cho đến năm 1417 với hai Giáo Hoàng tại chức , một ở Avignon và một ở Roma.


2.4: Ngôn sứ giả Gioan XXIII - Kết quả: Nguy giáo hoàng

Cuộc ly giáo đã xẩy ra vì có hai phe tranh giành ngôi vị Giáo Hoàng trong thời gian sóng gió đó. Trước hết phe các nước nói tiếng Latinh và Pháp ủng hộ Giáo Hoàng Clement VII ở Avignon , đối đầu với phe người Đức và Anh ủng hộ Giáo Hoàng Urban VI ở Rome..

Giáo Hoàng Clement VII mất năm 1394 và người kế vị được bầu lên thay là Benedict XIII, tiếp tục cai trị ở Avignon. Ở bên kia, Giáo Hoàng Urban VI cũng mất năm 1397, và người kế vị được bầu lên là Gregory XII, người Roman. Như vậy trong thời kỳ này có hai giáo hoàng cùng tranh ngôi , một ở Pháp và một ở Rôma

Để giải quyết tình trạng này, các Hồng y và nghị phụ đã họp Công đồng tại Písa ngày 29-3-1409 và bầu Giáo Hoàng mới lấy danh hiệu là Alexander V, nhưng ngài chưa kịp về Roma nhậm chức thì đã mất ở Bologna ngày 3-5-1410, và người kế vị được bầu lên ngày 17-5-1411 đã lấy danh hiệu là Gioan XXIII. Nhưng tân Giáo Hoàng tỏ ra là người không có đủ tài đức và khả năng lãnh đạo Giáo Hội, lại được bầu lên nhờ áp lực và tham vọng cá nhân, nên bị coi là nguy giáo hoàng ( antipope), và buộc phải thoái vị.

Xin đọc: 


2.5: Ngôn Sứ Giả Martin Luther - Kết quả: Sự ly giáo của Tin Lành

Ngôn sứ giả này tên là Martin Luther. Là tu sĩ Dòng Augustine, mục tiêu ban đầu của Luther là kêu gọi cải cách từ bên trong Giáo hội Công giáo La Mã, về sau ông tách rời khỏi Giáo hội Công giáo và thành lập Giáo hội Luther hay còn gọi là Tin Lành.

Xin đọc: Tin lành

2.6: Ngôn sứ giả Tebartz-van Elst - Kết quả: Bị cách chức vì sống xa hoa

Theo hãng tin BBC, giám mục xứ Limburg Franz-Peter Tebartz-van Elst bị giới truyền thông Đức cáo buộc đã chi tới hơn 31 triệu euro (42 triệu USD) để sửa sang dinh thự riêng của mình. Tòa thánh Vatican đã quyết định đình chỉ giám mục này sau khi Giáo hoàng Francis gặp và nói chuyện với ông ta.


2.7: Ngôn sứ giả: Mariano Rampolla - Kết quả: Hồng Y Tam Điểm

Đau đớn thay, ĐGH Leo XIII bị Tam Điểm làm hại. Họ phá chính sách của Ngài qua trung gian Hồng Y Tam Điểm Mariano Rampolla, kẻ sau này suýt nữa được bầu làm Giáo Hoàng kế vị ĐGH Leo XIII. Việc này được phá vỡ nhờ Đức Hồng Y J. de Cozyma đã kịp thời chuyển đến các Hồng Y Mật Viện tờ phủ quyết của Hoàng Đế Francois Joseph nước Áo. Ngài nói rõ: “ Mariano Rampolla là Hồng Y Tam Điểm, người đã được ĐGH Leo XIII chọn làm Quốc Vụ Khanh”. Sau đó Đức Pio X được bầu thay thế. 
Căm phẫn vì bị vỡ kế hoạch, Tam Điểm gây phong trào “Chính, Giáo chia ly”, tách rời trên khắp thế giới từ năm 1905, bằng cách cổ võ các Linh Mục trẻ theo phong trào “Duy Tân” của Mỹ. Tới năm 1914, chúng tổ chức ám sát Hoàng tử Áo vì cha ông làm Tam Điểm mất ngôi Giáo Hoàng… Thời này, ĐGH Pio X lại ra Thông Điệp “Lamentabiliti” lên án thuyết “Duy Tân”.


IV. Cụ thể hiện tại: Kinh Thánh - Sứ Điệp - Thực Tế

Còn nhiều lắm nhưng con xin đơn cử cho bà con mình vài đoạn Kinh Thánh và Sứ Điệp cùng vài ngôn sứ giả chính yếu như trên để chứng minh cho luận điểm tại sao Giáo Hội Công Giáo lại có Đức Giáo Hoàng giả hay còn gọi là ngôn sứ giả vào thời điểm này - Thời của Sách Khải Huyền ứng nghiệm - Thời cuối - Thời tận cùng - Thời cánh chung.

1. Ngôn sứ giả là ai?

Thưa: Ở điềm báo số 5 trong bài giảng về ngày Chúa Quang Lâm con đã từng chia sẻ về Ngôn Sứ Giả như sau:
Sẽ nhiều ngôn sứ giả xuất hiện” ( Mt 24 :11). Đọc đến câu này chúng ta sẽ tự hỏi! Vậy thì ngôn sứ giả là ai? Ngôn sứ là gì? Ai là ngôn sứ? 
Theo Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Khi chịu phép rửa tội chúng ta sẽ được tham dự vào 3 chức vụ của Chúa Kitô đó là: tư tế, vương đế và ngôn sứ. 
Từ đó chúng ta suy ra. Vậy ngôn sứ nhỏ nhất là giáo dân, kế đến là linh mục, tiếp theo là giám mục và ngôn sứ cao nhất là giáo hoàng. 
Vì Chúa nói: “sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người”. ( Mt 24 :11 ). 
Nên dựa vào Lời Chúa chúng ta thấy, sẽ có giáo dân giả, linh mục giả, giám mục giả và giáo hoàng giả. Điều này không phải bây giờ mới có, mới xảy ra nhưng điều này đã có ngay từ thời Cựu Ước và kéo dài đến tận ngày cuối cùng khi Chúa quang lâm.

2. Đức Giáo Hoàng Giả là ai?

Thưa: Đức Giáo Hoàng Giả là ngôn sứ giả mà Thánh Gioan đã đề cập trong Sách Khải Huyền 13: 11-18 là: Ngôn sứ giả phục vụ Con Thú.
Và là Đức Giáo Hoàng Giả mà Đức Mẹ Lasalete đã nhắc đến trong Sứ Điệp Lasalete và Bí Mật Phatima. 
H.- Có phải để chống lại những người đã dâng mình cho Chúa nhưng đã bị quỷ Luxiphe mua chuộc mà điềm báo thứ 7 lưu ý Đức Giáo Hoàng phải đề phòng chăng?
T.- Thế gian sẽ có Đức Giáo Hoàng giả, tiên tri giả và nhiều kẻ như thế để phỉnh gạt nhân dân. Đức GiáoHoàng sẽ bảo các tìn hữu đề phòng và đừng tin theo những hạng người ấy. Trích Sứ Điệp Lasalete tại: Sứ Điệp Đức Mẹ.

3. Sao Đức Giáo Hoàng thời cuối lại liên quan đến Ngôn sứ Giả trong Sách Khải Huyền?

Thưa: Vì tất cả những gì đã được ghi chép trong Kinh Thánh phải được ứng nghiệm. Vì đó là Lời Chúa.

4. Vậy thì Đức Giáo Hoàng nào liên quan đến câu: Ngôn sứ giả phục vụ Con Thú  trong Sách Khải Huyền?

Thưa: Khi một vị giáo hoàng ở thời tận cùng, thời cánh chung hội tụ đủ những gì mà lời tiên tri của Thánh Gioan đề cập trong Sách Khải Huyền thì đó là Ngôn sứ giả phục vụ Con Thú. 

4.1: Kinh Thánh - "Con Thú khác từ đất đi lên". (Kh 13:11).

Thực tế: Con người được sinh ra từ bụi đất.


4.2: Kinh Thánh - "Có hai sừng giống như sừng chiên". (Kh 13:11).


Thực tế: Sừng muốn nói đến các vị lãnh đạo giáo hội công giáo, vì thời Cựu Ước các tư tế khi dâng lễ trên đền thời thì đội mũ có hai sừng. Thời nay các giám mục, hồng y và giáo hoàng đội mũ có hai đầu nhọn nhô lên tượng trưng cho hai cái sừng thời các tư tế thời Cựu Ước.
Suy ra. Các linh mục không phải là vị Ngôn sứ giả mà Thánh Gioan đề cập vì các cha ngày nay không đội mũ. 
Vậy thì Ngôn sứ giả này rơi vào các đức giám mục, hồng y và giáo hoàng. Vì các vị này đội mũ.


4.3: Kinh Thánh - "nói năng như một Con Mãng Xà" (Kh 13:11).

Thực tế: Con mãng xà cũng là con rồng. Các vị vua hay măc áo hình con rồng mà người ta gọi là Long bào - tức là mặc áo Rồng, ý muốn nói lệnh của vua là cao nhất. Trong Giáo Hội Công Giáo, tiếng nói của Đức Giáo Hoàng là có quyền lực nhất. Như vậy, ngôn sứ giả mà Thánh Gioan đề cập ở đây rơi vào ngôi vị giáo hoàng.


4.4: Kinh Thánh - "Ðây là lúc cần phải có sự khôn ngoan. Ai có trí thông minh hãy tính ra số của tên Con Thú, vì đó là số của tên một người, và số của tên người ấy là sáu trăm sáu mươi sáu. (Kh 13:18)


Thực tế: Theo Thánh Gioan thì vị ngôn sứ giả này mang tên của con thú, và tên của ngôn sứ giả này là 666. 
Như vậy, ta cứ thấy vị giáo hoàng nào ở thời cuối cùng này liên quan đến đủ 3 con số 6 thì vị đó là Ngôn sứ giả phục vụ con thú 2 sừng.
Nhưng lại giống sừng chiên và có cái miệng ăn nói của Luxiphe - tức con Mãng xà mà Thánh Gioan mô tả như sau:

"Con Mãng Xà bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Xatan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ; nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống với nó". (Kh 12: 9).

(12) "Nó thi hành tất cả quyền bính của Con Thú thứ nhất - có mười sừng và bảy đầu; trên mười sừng đều có vương miện, và trên các đầu có danh hiệu xúc phạm đến Thiên Chúa (Kh 13: 1) - trước mặt Con Thú ấy, và làm cho đất, cũng như những người sống trên mặt đất, thờ lạy Con thú thứ nhất, mà vết tử thương đã được chữa lành. .Nó có hai sừng giống như sừng chiên, và nói năng như một Con Mãng Xà... (Kh 13: 1). Số của tên Con Thú, là số của tên một người, và số của tên người ấy là sáu trăm sáu mươi sáu" (Kh 13:18).

V - Câu trả lời và Sự ứng nghiệm của Lời Kinh Thánh:

1. Cách tính dễ hiểu và dễ nhớ cùng rất thực tế:

A - Tình cờ Đức Giáo Hoàng Phanxicô - tên tiếng anh là Pope Francis sinh năm 1936. 
Theo: Dòng Tên
Đức Giáo Hoàng Phanxicô tên thật là Jorge Mario Bergoglio sinh ngày 17 tháng 12 năm 1936, tại Buenos Aires, nước Argentina, trong một gia đình di dân người Ý có năm người con.

B - Là vị giáo hoàng thứ 266 của Giáo Hội Công Giáo.
Hôm nay, trong ngày lễ Kính thánh Giuse, ngày 19 tháng 03 năm 2013, Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ cử hành thánh lễ để khai mạc triều đại Giáo hoàng của mình. Nhận dịp này, chúng tôi xin gửi đến quý vị tiểu sử của vị Giáo hoàng thứ 266 của Giáo Hội Công Giáo. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến từ tân thế giới, và cũng là vị Giáo hoàng đầu tiên xuất thân từ Dòng tên.

Gộp lại: 1936 và 266 = 666.

2. Cách tính đúng nhất theo sát Kinh Thánh:


Các nhà lãnh đạo công giáo bảo vệ Trump sau khi Giáo hoàng thách thức quan điểm sống động của ông
Ngày 12 tháng 9 năm 2017 ( LifeSiteNews ) - Các nhà lãnh đạo công giáo đang bảo vệ Tổng thống Trump nhằm chống lại Đức Giáo hoàng Francis sau khi Giáo hoàng thẩm vấn quan điểm của Trump, mặc dù thực tế Trump đã thành công trong thời gian ngắn nhậm chức.
Michael Hichborn, người sáng lập và chủ tịch Viện Lepanto, nói: "Nếu Đức Giáo hoàng Francis rất quan tâm đến sự cam kết của người khác đối với việc bào chữa cho trẻ sơ sinh, ông cũng nên xem xét những lời nói và hành động của chính mình".

Đức Giáo hoàng đặt câu hỏi về chính sách của Tổng thống

Trên chuyến bay trở về từ chuyến viếng thăm Colombia, Đức Giáo hoàng đã phê bình Trump về kế hoạch của ông để chấm dứt chương trình Hành động Thích ứng Cho Trẻ em (DACA).
"Tôi đã nghe Tổng thống Hoa Kỳ nói chuyện", theo lời của Đức Giáo hoàng Francis , theo Phóng viên Công giáo Quốc gia . "Ông tự giới thiệu mình là một người đàn ông thực tế. Nếu ông là một người sống cuộc sống tốt, ông nên hiểu rằng gia đình là cái nôi của cuộc sống và bạn phải bảo vệ sự thống nhất của nó. "
Hichborn chỉ ra một sự phân đôi trong lời tuyên bố của ĐGH. "Một người phải hỏi tại sao Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người im lặng về sự ủng hộ của Tổng thống Obama cho ngành công nghiệp phá thai, đang đặt câu hỏi về sự cam kết của Tổng thống Trump đối với nguyên nhân cuộc sống", Hichborn tự hỏi. "Vì gia đình là cái nôi của cuộc sống và bạn phải bảo vệ sự thống nhất của mình", như Đức Giáo hoàng Francis nói, có lẽ bây giờ ông sẽ làm sao khi cho phép những người công giáo đã ly dị tái hôn được rước lễ là một cuộc tấn công trực tiếp vào sự thống nhất của gia đình."
Hichborn không dừng lại ở đó. "Đức Giáo hoàng Phanxicô đã gây ra sự bối rối và lo lắng cho người Công giáo kể từ khi ông nhậm chức. Ông gọi Emma Bonino, một nhà nạo phá thai người Ý, là một trong những "người tuyệt vời" của Ý - Người đề nghị biện pháp tránh thai có thể được giải quyết khi ánh sáng Zika bùng phát. Ông đã tổ chức những người đam mê kiểm soát dân số ở Vatican. Ông đang cộng tác với Jeffrey Sachs, người kiểm soát dân số. Ông đã đánh mất Học viện Giáo hoàng về Sự sống vì đã chỉ định một nhà thần học ủng hộ phá thai cho học viện. "
Deal Wyatt Hudson, chủ tịch của Viện Giáo dục và Văn hóa Morley và là cựu nhà xuất bản và biên tập viên của tạp chí Crisis, đã thể hiện tình cảm tương tự. "Thật buồn cho tôi rằng Đức Giáo Hoàng từ chối công nhận những xác tín và hành động của Tổng thống Trump để bảo vệ những đứa trẻ chưa sinh ra trong nước ta. Ông ta làm cho Giáo hội trở thành một kẻ phá hoại khổng lồ bằng cách nghi ngờ cam kết của Tổng thống nhằm bảo vệ cuộc sống vì quan điểm của ông về vấn đề nhập cư, như thể những người không thể được gọi là 'cuộc sống thân thiện' trừ khi họ đồng ý với Đức Giáo hoàng Phanxicô về vấn đề đó...

Kế hoạch của Giáo Hoàng so với sự bảo vệ của Tổng thống đối với thai nhi

Một số nhà lãnh đạo cuộc sống gia đình đã đặt câu hỏi về sự lưỡng lự của chính sách nhập cư của Đức giáo hoàng với sự bảo vệ cho thai nhi. Mallory Quigley, giám đốc truyền thông của Susan B. Anthony List, cho biết: "Tôi nghĩ rằng thật khó khăn khi hợp nhất tất cả các vấn đề này vào nhau.
Quigley cảm thấy rằng xếp chồng lên nhau hai vấn đề này một cách không công bằng làm mờ các thành tựu lớn trong đời sống của tổng thống. "Hoa Kỳ có một số luật lệ cho phép phá thai và Tổng thống Trump đã đưa ra bốn lời hứa chính để thay đổi điều đó. Ông đã bảo về các thai nhi từ lúc thụ thai. "
Chính quyền của ông đã hành động ngay lập tức để ban hành và mở rộng Chính sách Thành phố Mexico ngừng tiền đóng thuế từ việc phá thai ở nước ngoài. Ông cũng ký một đạo luật cho phép các quốc gia Defund Planned Parenthood, quốc gia phá thai số một của nước này, thông qua Title X. "

Đức Giáo hoàng Francis không hiểu đã làm việc như thế nào?

Hudson bổ sung, "Giáo hoàng Francis đang thận trọng sử dụng một cách có hiệu quả vấn đề - nhập cư - để giải quyết giáo huấn của Giáo Hội - cấm phá thai. Sự mâu thuẫn là ở đây. "
TSHM chuyền dịch từ: https://www.lifesitenews.com/news/pro-life-america-rushes-to-defend-president-trump-against-popes-critic


Ngày 8 tháng 9 năm 2017 ( LifeSiteNews ) - Một vài tháng trước khi chết, Đức Hồng Y Carlo Caffarra cầu xin Đức Giáo Hoàng Francis trong một bức thư công khai vào tháng Sáu để chấm dứt "sự lộn xộn và mất phương hướng" trong Giáo Hội sau khi xuất bản Tông Huấn của Đức Giáo Hoàng vào Tháng Tư năm 2016, Amoris Laetitia . 

Nhưng Đức Giáo hoàng Francis chưa bao giờ trả lời lời kêu gọi của Đức hồng y vào ngày 25 tháng Tư, cũng như ông không bao giờ trả lời lời kêu gọi Caffarra ngày 19 tháng 9 năm 2016 cùng với ba hồng y khác để xác nhận rằng Tuyên ngôn của ông phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội Công giáo tông truyền. 

Bây giờ, Giáo hoàng "Amoris Laetitia" sẽ không bao giờ có cơ hội đáp lại Đức Caffarra. 

Trong bức thư, Đức Caffarra, Hồng Y Joachim Meisner (nay đã qua đời), Walter Brandmüller, và Raymond Burke " đã yêu cầu Đức Giáo hoàng giải quyết những điều không chắc chắn và mang lại sự rõ ràng" cho "một số đoạn mơ hồ làm cho Giáo Hội mất phương hướng" trong Amoris Laetitia .  

Hồng y đã nêu rõ sự tàn phá mà Tông Huấn đã gây ra trong Giáo Hội trong năm đầu tiên xuất bản. 

"Trong thời gian này, những diễn giải về một số đoạn văn mơ hồ của Thông báo hậu Hội nghị đã công khai được đưa ra không khác biệt gì với Huấn quyền thường trực của Giáo hội", Ngài viết. 

"Mặc dù thực tế là Chủ Tịch Giáo Lý Đức Tin đã nhiều lần tuyên bố rằng giáo lý của Giáo Hội đã không thay đổi, rất nhiều lời tuyên bố xuất hiện từ các Giám mục, Hồng y, và thậm chí cả các Hội đồng Giám mục, phê chuẩn Huấn quyền của Giáo Hội chưa bao giờ chấp nhận ", Ngài nói thêm. 

Đức Caffarra đã viết rằng "đau đớn" đối với ngài để chứng kiến ​​ảnh hưởng của Phúc thẩm đối với Giáo hội. 

"Không chỉ xúc phạm đến Thánh Thể cho những ai sống một cách khách quan và công khai trong tình trạng tội lỗi nghiêm trọng, và có ý định ở lại trong tội, mà còn là một khái niệm về lương tâm luân lý ngược với truyền thống của Giáo Hội", Ngài viết. 

"Và thế là nó đang xảy ra - đau như thế nào khi nhìn thấy nó! - tội lỗi ở Ba Lan là điều tốt lành ở Đức, điều cấm đoán ở Tổng Giáo phận Philadelphia được phép ở Malta ", Ngài nói thêm. 

Đức hồng y hy vọng rằng "tình trạng lộn xộn và mất phương hướng, đặc biệt nơi các mục tử " sẽ sớm chấm dứt.

"Đối mặt với tình hình nghiêm trọng này, trong đó nhiều cộng đồng Kitô hữu đang bị chia cắt, chúng tôi cảm thấy trọng trách của mình, và lương tâm của chúng tôi thúc đẩy chúng tôi hỏi một cách khiêm tốn và tôn trọng đối với một vị Giáo Hoàng", Ngài viết. 

Tuy nhiên, Giáo hoàng Phanxicô, vẫn không đáp ứng theo những nguyện vọng của Đức Caffarra.

Vâng, cuộc sống của Đức Hồng Y Carlo Caffarra đã kết thúc. Tuy nhiên, "sự nhầm lẫn và mất phương hướng" trong Giáo Hội đã làm Ngài đau đớn. 

Vâng, Đức Hồng Y Caffarra đã về với Chúa. Tuy nhiên, những lời chia tay trong bức thư cuối cùng của Ngài đối với Giáo Hoàng  giờ đây đã đưa ra chiều hướng của một lời tiên tri chưa được hoàn thành sẽ ám ảnh giáo hoàng Phanxicô cho đến khi giáo hoàng giải quyết những quan ngại của Đức Hồng Y.

Tu Sĩ Hèn Mọn chuyển dịch từ: 

https://www.lifesitenews.com/blogs/cardinal-caffarra-begged-pope-francis-to-end-confusion-in-church-prior-to-h

Những lời khuyên xoay quanh con người và con người. Không có Thiên Chúa là trung tâm điểm của Đức tin Công giáo.

Rất nhiều người trong các con thực sự không nhận biết Thánh Tử của Mẹ thì các con phải hiểu rằng nơi Thánh Tâm của Người rất dịu dàng và êm ái. Người dành cho tất cả các con biết bao nhiêu tình yêu đến nỗi nếu các con chứng kiến nỗi đau khổ của Người vì bị khước từ thì các con sẽ phủ phục xuống đất mà khóc lóc và cầu xin ơn tha thứ tội lỗi của nhân loại.

Sách Sự Thật: Tội thờ ơ đối với Thánh Tử của Mẹ đang lan tràn

Giáo hoàng Francis với 10 bí quyết sống hạnh phúc

10 bí quyết sống hạnh phúc của Giáo hoàng Francis vừa được tiết lộ trong một bài phỏng vấn cho tờ tạp chí Viva của Argentina nhân dịp 500 ngày đương nhiệm của ngài.

1. Hãy sống và để người khác sống

Giáo hoàng Francis cho rằng bí quyết đầu tiên nếu muốn có một cuộc sống bình yên và hạnh phúc là hãy làm theo lời khuyên của người La Mã cổ đại: Campa e fascia campà, hay còn có nghĩa là “hãy sống và để người khác sống”. Lời khuyên này cũng tương tự như một câu nói nổi tiếng của Giáo hoàng khi ngài bày tỏ quan điểm về việc Nhà thờ không nên can thiệp vào cuộc sống của bất cứ ai, dù họ là người đồng tính hay người bình thường. ĐTC đã nói: “Tôi là ai mà được quyền đánh giá người khác?”

Kinh Thánh nói:

36 Ðức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. 37 Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: "Lúa chín đẩy đồng, mà thợ gặt lại ít. 38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về."

10 1 Rồi Ðức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

2 Sau đây là tên của mười hai tông đồ: đứng đầu là ông Si-mon, cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê, anh của ông; sau đó là ông Giacôbê con ông Dêbêđê và ông Gioan, em của ông; 3 ông Philipphê và ông Batôlômêô; ông Tôma và ông Mátthêu người thu thuế; ông Giacôbê con ông Anphê và ông Tađêo; 4 ông Simon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giuđa Ítcariốt, chính là kẻ nộp Người. 5 Ðức Giêsu sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng:

"Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Samari. 6 Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ítraen. 7 Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nưới Trời đã đến gần. 8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và trừ khử ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy."

Thánh truyền: Các linh mục phải có bổn phận với các linh hồn của mình và lệnh truyền của Chúa Giêsu sai chúng ta đi rao giảng Tin Mừng và làm phép rửa cho dân ngoại

2. Hãy cho đi

Lời khuyên này không có gì đáng ngạc nhiên khi nó tới từ Giáo hoàng – người thường xuyên nhắc nhở các Hồng y và giáo dân cần phải sống rộng lượng với tất cả mọi người. Đức Giáo hoàng thường nhấn mạnh đến việc quan tâm tới người nghèo. Giáo Hoàng cũng là người cho rằng từ thiện không chỉ là cho đi về mặt tiền bạc.

3. Cư xử điềm tĩnh

Với lời khuyên thứ ba, Giáo hoàng Francis đã trích dẫn cuốn tiểu thuyết Don Segundo Sombra của tác giả người Argentina Ricardo Gũiraldes. Cuốn sách kể về hành trình của một nhân vật mà tuổi trẻ của anh ta được ví như “một dòng suối đầy đá ngầm bên dưới, bất chấp chảy qua mọi thứ, đến khi trưởng thành hơn, anh ta được ví như một dòng sông, và đến khi về già, anh trở nên điềm tĩnh”.

4. Hãy giải trí lành mạnh

Giáo hoàng nói rằng ở Argentina ngài thường hỏi các bà mẹ rằng có thường xuyên dành thời gian chơi với con hay không. Việc dành thời gian cho vui chơi, thưởng thức nghệ thuật và văn học thật là khó khăn, nhưng “đó là việc phải làm” – ĐGH nói. Ngài cũng từng viết trong một cuốn sách rằng: “Những người làm việc phải dành thời gian để giải trí, để ở bên gia đình, đọc sách, nghe nhạc, chơi thể thao”.

5. Chủ Nhật là ngày dành cho gia đình

Giáo Hoàng nói rằng mỗi tuần một lần, mọi người nên gác lại công việc để dành thời gian cho gia đình. Ngài thường đánh giá cao tầm quan trọng của gia đình. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh, ngài nói, gia đình “là thứ cần thiết cho sự sống còn của nhân loại”.

Điều 4 và 5, Kinh Thánh nói: Ðức Giêsu trả lời: "Ðiều răn đứng đầu là: Nghe đấy, hỡi Ítraen, Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Ðức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.

Giáo lý Công giáo dạy: Chúa Nhật là ngày dành riêng cho Thiên Chúa, để ta thờ phượng Ngài cách đặc biệt hơn.

6. Tìm cách kiếm việc cho người trẻ

Giáo hoàng lưu ý rằng tỷ lệ dùng ma túy và tự tử ở người thất nghiệp dưới 25 tuổi là khá cao. Ngài nói, cuộc khủng hoảng này đòi hỏi chúng ta phải sáng tạo trong việc giúp họ tìm việc làm. Với Giáo hoàng, công việc không chỉ mang lại cho người ta tiền bạc, mà nó còn mang lại phẩm giá. Trong một bài giảng hồi tháng 5, ông nói “sức mạnh, tiền bạc, văn hóa không mang lại cho chúng ta phẩm giá. Công việc, sự trung thực mới làm được điều đó”.

7. Tôn trọng thiên nhiên

Giáo hoàng đã từng nói về vấn đề môi trường trong nhiều bài giảng. Trong một cuộc phỏng vấn, ngài có nói rằng: “Có phải loài người đang tự tử khi sử dụng bừa bãi tài nguyên thiên nhiên?”

8. Hãy quên đi những phiền muộn

Một trong những bí quyết sống hạnh phúc của Giáo hoàng là bỏ qua những thứ tiêu cực. Ngài khuyên rằng sẽ rất lành mạnh khi để những thứ buồn phiền trôi qua nhanh chóng.

Kinh Thánh: Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng". (Mt 11,28).

Truyền thống GH: Bí Tích Thánh Thể là lương thực và nguồn tình yêu.

9. Đừng cải đạo

Giáo hoàng Francis nói rằng điều tồi tệ nhất là thay đổi tôn giáo mà bạn đang theo. Theo Giáo hoàng, chúng ta không nên nói chuyện với người khác với mục đích duy nhất là thuyết phục họ rằng chúng ta đúng. Mỗi người đều nhìn thế giới theo cách riêng của mình và điều đó nên được tôn trọng.

Kinh Thánh:

Ðức Giêsu đến gần, nói với các ông: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19 Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20 dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". (Mt 28,18-20)

Truyền thống GH: Truyền giáo, nếu không có các nhà thừa sai anh dũng truyền giáo thì chúng ta làm gì có Đức tin.
10. Làm việc vì hòa bình

Giáo hoàng Francis không né tránh việc bình luận về các cuộc khủng hoảng của thế giới. Khi đề cập đến vấn đề xung đột ở Trung Đông, ngài đã có lời kêu gọi chấm dứt bạo lực: “Tôi khẩn thiết đề nghị các bạn, đã đến lúc dừng lại. Làm ơn hãy dừng lại!”. Trước đây, ngài từng ủng hộ những người phải di dời do xung đột và ca ngợi những quốc gia như Thụy Điển – một đất nước đã đưa ra nhiều biện pháp để tạo điều kiện cho người tị nạn. Giáo hoàng Francis nói rằng làm việc vì hòa bình cần phải chủ động, đừng bao giờ lặng lẽ: “Hòa bình là thứ ngôn ngữ mà chúng ta phải lên tiếng”.

Đã 4 năm rồi, Vị này nhất định không hôn chân Chúa, không quỳ trước Thánh Giá Chúa mà luôn đứng và chỉ hôn bụng Chúa. 
Ngược lại
Vị này lại qùy xuống rửa chân và hôn chân nữ tù nhân, nữ hồi giáo...
Tại sao vậy? Chả lẽ Thiên Chúa không bằng những kẻ tội lỗi kia ư?
Xin xem video từ Vatican
Và đây là câu trả lời:

Chúng sẽ không sụp lạy dưới chân Ta. Chúng sẽ không hôn Chân Ta nhưng sẽ hôn chân những tôi tớ của Ta, những tín hữu của Ta và những người tội lỗi của Ta

Thứ sáu ngày 29 tháng 3 năm 2013, lúc 19:00

Hỡi con gái của Ta, khi Giuđa Iscariôt phản bội Ta, hắn ôm ghì đầu Ta và hôn Ta trên má. Khi những người lãnh đạo Giáo Hội của Ta nói rằng họ yêu mến Ta, và rồi họ phản bội Ta, các con sẽ thấy rõ ràng những cái hôn phản bội của họ.

Chúng sẽ không sụp lạy dưới chân Ta. Chúng sẽ không hôn Chân Ta nhưng sẽ hôn chân những tôi tớ của Ta, tín hữu của Ta và những người tội lỗi của Ta.

Việc quan tâm đến những nhu cầu của anh em đồng loại là đáng quý. Tuy nhiên, khi các con cổ võ cho những nhu cầu về vật chất và đặt chúng lên trên những nhu cầu tâm linh thì không phải là các con phụng sự Ta, Chúa Giêsu Kitô.

Chủ nghĩa nhân đạo không phải là Kitô Giáo. Là Kitô hữu có nghĩa là phải đầu phục Ta trong mọi sự, và từ bỏ chính mình trong sự khiêm nhường tuyệt đối dưới chân Ta. Có nghĩa là để Ta dẫn dắt các con. Có nghĩa là tuân theo những Lề Luật của Ta và làm tất cả những gì có thể được để làm chứng cho Tình Yêu của Ta dành cho tất cả các con. Hôm nay Ta đã bị phản bội.

Các con không thể bị lừa dối lâu nữa đâu vì một khi Nhà Thiên Chúa bị tấn công từ ngay trong chính nội bộ thì việc này không mang lại điều gì ngoài sự rối loạn. Các con phải vác Thập Giá của các con và bước theo Ta vì các con sẽ sớm bị làm cho mù lòa, các con sẽ trượt chân và vấp ngã trong sự tăm tối.

Nếu không có Ánh Sáng của Thiên Chúa thì các con không thể nhìn thấy được.

Chúa Giêsu của các con

Chuyển dịch từ nguồn: The Book of Truth

Theo: Sứ Điệp Chúa Đến

Người Vô Thần Có Vào Thiên Đàng?
Quả bóng và Nhà tạm
Ngày 21-5-2013, ĐGH Phanxicô tạo một đợt “bão tố” đối với sự tranh luận về tôn giáo sau một bài giảng nói về người vô thần. Trong bài giảng này, ngài nhấn mạnh rằng vấn đề không phải là gia nhập tôn giáo, nhưng là “chúng ta làm điều tốt”:

Thiên Chúa đã cứu độ tất cả chúng ta bằng Máu Thánh của Đức Kitô: Tất cả chúng ta, không chỉ người Công giáo. Mọi người. Kể cả người vô thần ư? Ngay cả người vô thần. Mọi người!... Tất cả chúng ta đều cótrách nhiệm làm điều tốt. Và tôi nghĩ rằng mệnh lệnh này đối với mọi người làm điều tốt là con đường tốt đẹp dẫn tới hòa bình. Nếu mỗi chúng ta làm phần việc riêng mình, nếu chúng ta làm điều tốt cho người khác, nếu chúng ta gặp nhau ở đó, tức là làm điều tốt, và chúng ta đi chậm, nhẹ nhàng, từng chút một, chúng ta sẽ tạo nên văn hóa của sự gặp gỡ: chúng ta cần điều đó rất nhiều. Chúng ta phải gặp nhau trong việc làm điều tốt. “Nhưng tôi không tin, vì tôi là người vô thần! Còn làm điều tốt: chúng ta sẽ gặp nhau ở đó”.

Sau bài giảng gây tranh luận đó, các hàng tít trên các tờ báo lớn và chủ yếu như báo New York Times đã kêu lên với chữ “tin quan trọng” theo Đức giáo hoàng, thậm chí người vô thần cũng có thể vào Thiên đàng: tất cả chúng ta, kể cả người vô thần, sẽ “gặp nhau ở đó [Thiên đàng]”, với điều kiện là làm điều tốt. Đây là một số ví dụ mà nhiều hàng tít lớn trên các tờ báo uy tín: “Thiên đàng dành cho người vô thần? Đức giáo hoàng tạo sự tranh luận”; “ĐGH Phanxicô có là tín đồ dị giáo? Không, nhưng ngài gợi lên các vấn đề”; “ĐGH Phanxicô nói: Ngay cả người vô thần cũng có thể vào Thiên đàng”.

Theo dòng tranh luận sôi nổi, LM Thomas Rosica, phát ngôn viên Tòa Thánh, đã “thanh minh” về câu nói của Đức giáo hoàng khi nói rằng Đức giáo hoàng bị hiểu lầm, rằng “họ không thể được cứu độ, biết Giáo hội được Đức Kitô thiết lập và cần ơn cứu độ, sẽ từ chối gia nhập Giáo hội hoặc vẫn ở trong Giáo hội”. Điều này làm cho nhiều nhà bình luận nói rằng sự “bào chữa” này của phát ngôn viên Tòa Thánh trái ngược với thực chất của điều giáo hoàng đã nói. Richard Dawkins, khoa học gia nổi tiếng và là người vô thần thẳng thắn, đã phản hồi: “Người vô thần lên Thiên đàng ư? Không. Xin lỗi thế giới, giáo hoàng bất khả ngộ đã hiểu sai. Vatican bước vào đó bằng sự sốt sắng”.

Đây không là lần đầu tiên ĐGH Phanxicô nói bằng cách nói tích cực đối với người vô thần. Trong cuộc gặp gỡ đại kết với các vị lãnh đạo các tôn giáo khác chỉ vài ngày sau khi đắc cử giáo hoàng, ĐGH Phanxicô đã nói rằng người vô thần và tín hữu có thể là “đồng minh quý giá” (precious allies) trong nỗ lực “bảo vệ nhân phẩm, xây dựng sự chung sống hòa bình giữa các dân tộc và cẩn thận bảo vệ công cuộc sáng tạo”.

Một chương về vô thần trong cuốn sách đầu tiên của ĐGH Phanxicô

Trong cuốn sách của ĐGH Phanxicô xuất bản lần đầu tiên, cuốn “On Heaven and Earth: Pope Francis on Faith, Family and the Church in the Twenty-First Century” (Trên trời và dưới đất: ĐGH Phanxicô nói về Đức Tin, Gia đình và Giáo hội trong thế kỷ XXI), có một chương dành riêng cho chủ đề vô thần. Sách này gồm nhiều bài thảo luận giữa ĐHY Bergoglio (nay là ĐGH Phanxicô), kể cả giáo sĩ Do Thái giáo Abraham Skorka, người Argentine, về nhiều chủ đề thuộc đức tin và tôn giáo.

Sự nhấn mạnh của chương này là tôn trọng và tha thứ cho người vô thần. ĐHY Bergoglio (nay là ĐGH Phanxicô) cho biết: “Khi tôi nói chuyện với người vô thần... tôi không đưa ra vấn đề về Thiên Chúa là điểm khởi đầu, trừ trường hợp họ đưa ra trước... Tôi không gạ gẫm họ vào đạo, hoặc từ bỏ chủ nghĩa vô thần; tôi tôn trọng họ và tôi chứng tỏ chính tôi là gì... Tôi cũng không nói đời họ bị kết án, vì tôi tin rằng tôi không có quyền phán xét về sự chân thật của người đó” (trang 11).

Mặt khác, giáo sĩ Do Thái giáo Skorka đã kết án cả người vô thần và tín hữu về “sự kiêu ngạo” của họ, thay vì ngầm khen họ là “người theo thuyết bất khả tri” (không thể biết, agnostic) – thuật ngữ này diễn tả những người nói rằng họ không chắc rằng có Thiên Chúa hiện hữu. Khi người vô thần phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, những người theo thuyết bất khả tri nói rằng không thể xác định sự hiện hữu của Thiên Chúa. Giáo sĩ Skorka nói: “Người theo thuyết bất khả tri nghĩ mình chưa có câu trả lời, nhưng một người vô thần 100% tin rằng Thiên Chúa không hiện hữu. Đó là sự kiêu ngạo tương tự dẫn tới chút nào đó chân nhận Thiên Chúa hiện hữu, cũng như chiếc ghế tôi đang ngồi đây. Những người theo tôn giáo là những người có niềm tin, nhưng họ lại không biết chắc Ngài hiện hữu...”.

Hơn nữa, giáo sĩ Skorka nói: “Mặc dù riêng tôi tin Thiên Chúa hiện hữu, nhưng là kiêu ngạo khi nói rằng Ngài hiện hữu như thể chỉ là sự chắc chắn nào đó trong cuộc sống. Tôi không ngẫu nhiên xác nhận sự hiện hữu của Ngài vì tôi cần sống sự khiêm nhường tương tự mà tôi đòi hỏi ở người vô thần”.

Về cơ bản, giáo sĩ Skorka nói rằng chúng ta nên “khiêm nhường” khi giải quyết với người vô thần bằng cách không khăng khăng cho rằng Thiên Chúa thực sự hiện hữu. Sự thật ở đây là ĐHY Bergoglio thực sự không mâu thuẫn với giáo sĩ Skorka về các câu nói trên đây, và thực sự, chương sách kết thúc bằng lời biện hộ của giáo sĩ Skorka về “sự khiêm nhường” trong thái độ của người theo thuyết bất khả tri.

Người vô thần có vào Nước Trời?

Nhiều người, kể cả người Công giáo đúng nghĩa, vẫn phản ứng ủng hộ bài giảng của ĐGH Phanxicô, khen ngài tha thứ cho người “không có đức tin”. Đó là tốt và đáng để chúng ta tôn trọng những người theo các tôn giáo khác, nhiều người quên rằng người vô thần từ chối Thiên Chúa. Làm sao một người từ chối Thiên Chúa có thể vào Thiên đàng chứ? Hoàn toàn trái ngược. Cuối cùng, Thiên đàng là Nước Trời của Thiên Chúa. Thiên đàng là nơi đời đời theo Chúa, tận hưởng vĩnh phúc.

Làm sao một người từ chối Thiên Chúa có thể vào Thiên đàng chứ? Người vô thần từ chối Thiên Chúa cho đến hơi thở cuối cùng là từ chối Nước Trời – họ từ chối tận hưởng vĩnh phúc, vì họ không tin điều đó. Vì chúng ta có ý chí tự do – một tặng phẩm Thiên Chúa không thể lấy đi khỏi chúng ta – Thiên Chúa không thể ép họ vào Nước Trời vì họ từ chối Ngài cho đến hơi thở cuối cùng.

Tại sao không nói về bằng chứng hiện hữu của Thiên Chúa?

Từ chối Thiên Chúa và vô thần là liều mạng vào lửa đời đời – trừ phi người vô thần sám hối trước khi chết. Người vô thần là người có linh hồn với nguy cơ vào hỏa ngục. Nếu chúng ta gặp ai đó sắp đâm đầu vào vách đá, rõ ràng là sẽ chết, chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta có “tôn trọng” họ mà để mặc họ liều mạng? Hay là chúng ta sẽ kêu cứu, la lớn, bảo anh ta dừng lại và đi đường khác?

Tại sao ĐHY Bergoglio nói về việc tha thứ cho người vô thần, và dành hẳn một chương về người vô thần? Chúng ta không nên nói với người vô thần về bằng chứng Thiên Chúa hiện hữu chăng? Thánh Thomas Aquinas, Thánh Anselm và nhiều Giáo phụ có bằng chứng hợp lý và mạnh mẽ về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Không thích hợp chút nào để đưa ra bằng chứng Thiên Chúa hiện hữu. Thay vì vậy, có vẻ ngày nay nên nhấn mạnh sự tha thứ và chấp nhận những người không có niềm tin. Thay vì nhấn mạnh sự tha thứ và tôn trọng người vô thần, chúng ta không nên chia sẻ với họ về niềm vui và bình an nhờ tin vào Thiên Chúa, và số phận bi đát đang chờ những người từ chối Thiên Chúa đến cuối đời chăng? Sự thật đau lòng, nhưng vẫn cần nói về điều tốt của người vô thần.

Chứng thực mặc nhiên của thuyết vô thần/thuyết bất khả tri

Trong cuốn sách này, ĐHY Bergoglio không sửa đổi hoặc biện hộ lý thuyết về “sự không chắc chắn” của giáo sĩ Skorka. Chúng ta nhớ lại lời của giáo sĩ Skorka: Mặc dù riêng tôi tin Thiên Chúa hiện hữu, nhưng là kiêu ngạo khi nói rằng Ngài hiện hữu như thể chỉ là sự chắc chắn nào đó trong cuộc sống”.

Câu nói này chứng thực “thuyết bất khả tri” (không biết Thiên Chúa hiện hữu hay không). ĐHY Bergoglio nói: “...Theo cảm nghiệm về Thiên Chúa, luôn có câu hỏi không được trả lời, một cơ hội ngụp lặn trong Đức Tin... chúng ta có thể nói Thiên Chúa là ai, có thể nói về các thuộc tính của Ngài, nhưng không thể nói Ngài là cái gì... Tôi cũng nói rõ đó là kiêu ngạo, các lý thuyết đó không chỉ cố gắng xác định bằng sự chắc chắn và sự chính xác về các thuộc tính của Thiên Chúa, mà còn làm ra vẻ nói Ngài là ai”.

Chúa Giêsu ở đâu trong cuộc đối thoại?

Nếu tôi là ĐHY Bergoglio, đối thoại với giáo sĩ Skorka, làm sao tôi trả lời sự chứng thực của thuyết bất khả tri? Tôi sẽ trả lời bằng cách nói rằng Chúa Giêsu là bằng chứng tối hậu về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Cuộc đời của Ngài, việc làm của Ngài, và nhất là sự phục sinh của Ngài là bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô là bằng chứng thật, cụ thể, có tính lịch sử, không thể từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Có lần Tông đồ Philipphê đã hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14:8). Chúa Giêsu nói: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?” (Ga 14:9-10).

Thay vì nói với người vô thần: “Là người vô thần cũng được, bạn vẫn vào Thiên đàng nếu bạn làm điều tốt”, thiết nghĩ chúng ta nên nói về mối nguy cơ của việc sống vô thần, bằng chứng không thể chối cãi về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và Thần tính của Chúa Giêsu. Họ có thể tranh cãi với chúng ta, la hét chúng ta, ghét chúng ta vì thách đố quan điểm của họ – nhưng nếu nói về “sự thật đau lòng”, và mặc dù như vậy, cũng cứ nên nói ra – chỉ vì muốn tốt cho họ.

PAOLO REYES

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com)
Theo: http://www.thanhlinh.net/node/98652

Lưu ý về tình trạng phát tán trên mạng nhiều bài phát biểu giả danh Đức Thánh Cha
Il Sismografo, trang blog tôn giáo tại Ý, mới đây đã đăng bài viết về tình trạng phát tán trên mạng nhiều bài phát biểu giả danh Đức Thánh Cha.
Nhận được thông tin này từ Il Sismografo, cơ quan thông tấn Vatican Insider News (La Stampa) đã đăng bài “Nhiều bài phát biểu giả danh Đức Thánh Cha lưu truyền trên mạng”.

Toàn văn bài viết nói trên của Vatican Insider News:

“Thật dễ dàng tìm thấy những câu, các phát biểu suy nghĩ và những lời cầu nguyện về hoà bình, tình yêu và gia đình, dù nói rõ của Đức Thánh Cha, nhưng thật ra là giả mạo. Il Sismografo, trang blog Ý chuyên cập nhật các hoạt động của Toà Thánh, hôm qua (02-01-2016) đã nhận được cả một khối lượng lớn các e-mail, hỏi có một bản văn được cho là của Đức Thánh Cha Phanxicô không biết có đúng như vậy không. Bản văn nêu trong thắc mắc, được nói là phần lớn lấy từ phát biểu của Đức Thánh Cha tại Thượng Hội đồng Giám mục thứ 14 mới đây về gia đình. Il Sismografo cho biết, từ khi Đức Phanxicô được bầu làm giáo hoàng, trên mạng bắt đầu lan truyền nhiều câu nói, lời cầu nguyện, phát biểu được gán cho ngài, nhưng chỉ cần đọc lướt qua cũng đủ thấy là giả mạo. Trường hợp được nêu trên cũng vậy, những suy tư được gán cho Đức giáo hoàng về gia đình, tình bạn, sự sống, những mối quan hệ con người, và nhiều vấn đề đại loại như thế, đều không có cơ sở và không thấy có trong giáo huấn của ngài. Lẽ tất nhiên, không tìm thấy những tuyên bố này trong sáu bài huấn từ của ngài tại Thượng Hội đồng Giám mục mới đây, hoặc trong bất cứ bản văn chính thức nào khác.

Il Sismografo đã đăng tất cả phát biểu của Đức Thánh Cha, kèm theo phát biểu giả mạo được gán cho là của Đức Thánh Cha, phát biểu giả mạo này được lưu truyền trên mạng với nhan đề “Đừng bao giờ hy sinh hạnh phúc, vì cuộc đời là một trò vui”. Có những suy nghĩ được gán cho Đức Thánh Cha, như: “Bạn có thể mắc sai sót, cảm thấy lo buồn và có khi bối rối, nhưng đừng bao giờ quên rằng đời bạn là công việc lớn lao nhất trên trần gian. Chỉ mình bạn mới ngăn nó không tụt dốc thôi. Vì vậy có nhiều người trân trọng, ngưỡng mộ và yêu mến bạn. Tôi muốn bạn nhớ rằng hạnh phúc không phải là có một bầu trời không bão tố, một con đường không có tai nạn xe cộ, một công việc nhàn hạ, những mối quan hệ chẳng có gì phải phàn nàn. Hạnh phúc là biết tìm kiếm sức mạnh trong sự tha thứ, niềm hy vọng qua tranh đấu, được an toàn khi gặp sợ hãi, yêu thương khi gặp bất đồng. Hạnh phúc không chỉ là biết trân trọng một nụ cười, mà còn biết suy gẫm về bất hoà. Không chỉ vui mừng khi thành công mà còn biết học hỏi từ những thất bại. Không chỉ phấn khởi khi được tán thưởng mà còn cả những lúc chẳng được ai đoái hoài”.

(Thành Thi, WHĐ 05.01.2016)

Đức Phanxicô từ chối không mang áo chống đạn bất chấp các đe dọa từ Hồi Giáo IS
Đức Phanxicô từ chối không mang áo chống đạn bất chấp các đe dọa từ Hồi Giáo IS
Đức Giáo hoàng Phanxicô đã không chấp nhận mang áo chống đạn trong buổi chúc lành Giáng Sinh, bất chấp cảnh sát cảnh báo ngài là mục tiêu của ISIS.

Phát ngôn viên Vatican cho biết, ngài ý thức được các mối đe dọa nhưng không sợ ISIS, và không muốn lắp kính chống đạn cho xe giáo hoàng.

Tổ chức khủng bố Hồi giáo ISIS đã phát hành các video tuyên truyền đe dọa sẽ tổ chức các cuộc tấn công như ở Paris hồi tháng trước, nhắm vào Roma, và Đức Phanxicô, lãnh đạo của Giáo hội Công giáo, được xem là mục tiêu hàng đầu của chúng.

Cảnh sát đã khuyên Đức Giáo hoàng tăng cường an ninh trước các mối đe dọa này, nhưng ngài đã từ chối thay đổi tinh thần lãnh đạo đầy gần gũi của mình.

Phát ngôn viên Vatican cho biết:

‘Ngài không sợ. Đức Giáo hoàng Phanxicô biết tất cả [về đe dọa từ ISIS] nhưng ngài không muốn mất sự gần gũi với người dân.’

Vatican nói rằng sẽ làm mọi việc có thể để đảm bảo an toàn cho Đức Giáo hoàng.

Cha Ciro Benedettini cho biết, Tòa Thánh biết về các video dọa dẫm của ISIS, nhưng chưa thấy có mối đe dọa cụ thể nào.

‘Có một vài tấm hình cờ đen phủ trên quảng trường thánh Phêrô. Có thể là một lời đe dọa thực sự, có thể chỉ là một cách để ISIS phô trương thanh thế, và đang một video như thế thì chỉ là việc cỏn con.’

Khi được hỏi Vatican phản ứng thế nào trước mối đe dọa này, linh mục phó giám đốc truyền thông Tòa Thánh cho biết, ‘Có một vài biện pháp đặc biệt, bạn sẽ thấy sự hiện diện của cảnh sát ở khắp nơi, có cả quân đội Ý trang bị vũ trang nữa. Ngoài các biện pháp hiện thời, tôi không nghĩ là sẽ có thêm tăng cường cho lễ Giáng Sinh.’

Cha Benedettini nói rằng Đức Giáo hoàng đã cự tuyệt việc mang áo chống đạn và dùng xe chống đạn trong các bài giảng hay chuyến công du nước ngoài.

Cha nói thêm:

‘Đức Giáo hoàng không muốn mang áo chống đạn. Có thể hiểu được việc này trên cương vị của ngài, thật là kỳ cục khi mang áo đó trên bàn thờ.

Rõ ràng có thể hiểu được khi cảnh sát và cảnh vệ muốn Đức Giáo hoàng được bảo vệ tốt hơn, nhưng có những điều không thể thay đổi.

Ngài không sợ, bạn đã thấy ngài đến châu Phi, ngài đến Cộng hòa Trung Phi, nơi ai ai cũng bảo ngài hãy tránh xa

Ngài đã đến đó, ngài đã không gặp phải nguy hại nào, ngài còn mời giáo chủ Hồi giáo lên xe với ngài nữa.

Ngài biết rõ tất cả các mối nguy này, nhưng ngài không quá bận tâm về chúng.’

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Cha mẹ tốt nói “Không”: Quan điểm của Giáo Hoàng Francis về vấn đề người Tin Lành và Thánh Thể
“Các Giáo Đoàn đã chuyển hóa từ cuộc cải cách và tách biệt khỏi Giáo Hội Công Giáo,” đã không còn giữ gìn được tính chân thật đúng đắn của mầu nhiệm Thánh Thể trong sự viên mãn của nó, đặc biệt là vì sự vắng mặt của bí tích Truyền Chức Thánh”. Vì lý do này mà, đối với Giáo Hội Công Giáo, việc tham gia Thánh Thể với các cộng đồng này là không thể”. –Giáo lý Giáo hội Công giáo, §1400

“Các Linh mục Công giáo chỉ ban các bí tích hợp lệ cho các thành viên Công giáo của các tín hữu Kitô giáo mà thôi, những người tương tự như vậy nhận lãnh các bí tích một cách hợp lệ từ các Linh Mục Công mà thôi …” – 1983 Bộ Giáo Luật, Giáo luật 844 §1.

Các quy định liên quan đến việc tiếp nhận các Bí Tích Thánh Thể được thành lập vững chắc, và không phải là một bí ẩn đối với bất kỳ người Công giáo nào được dạy giáo lý. Một cách đơn giản, để Rước lễ, người ta phải giữ chay Thánh Thể, phải ở trong một tình trạng ân sủng (sạch mọi tội trọng), và phải là người Công Giáo.

Sự tách biệt giữa chúng ta và các giáo phái Tin Lành khác nhau trên bất kỳ số lượng các vấn đề tín lý và giáo điều là rất quan trọng. Tôi sẽ không dành nhiều thời gian vào những vấn đề ấy ở đây, vì những người khác có nhiều khả năng hơn tôi, đã khám phá những vấn đề này trong gần 500 năm. Không thiếu các nguồn tài liệu về chủ đề này. Thay vào đó tôi sẽ chỉ nói điều này: Có những lý do chính đáng tại sao người Công Giáo chưa bao giờ cho bất cứ ai không đáp ứng các tiêu chuẩn đã nêu ở trên được rước lễ – tuy nhiên ngoại lệ nhất định là đối với những người có nguy cơ chết mà người đó có thể bày tỏ đủ niềm tin vào những mầu nhiệm bí tích.

Đây là công cụ cơ bản. Công giáo 101.

Lý do gì tất cả người Công giáo nên nhận ra điều không thể hiểu được rằng Đức Giáo Hoàng Francis, khi phải đối mặt với một câu hỏi từ một phụ nữ Tin Lành về việc liệu bà có thể nhận Bí Tích Thánh Thể với người chồng Công giáo của mình hay không, đã khó khăn thế nào chỉ để nhắc lại giáo huấn của Giáo Hội. Dưới đây là những gì ngài nói cuối tuần qua:

Câu hỏi: Tôi tên là Anke de Bernardinis và, như nhiều người trong cộng đồng của chúng tôi, tôi đã kết hôn với một người Ý, là người Công giáo La Mã. Chúng tôi đã sống hạnh phúc với nhau trong nhiều năm, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn. Và vì vậy chúng tôi rất lấy làm tiếc khi bị chia cắt trong đức tin và không thể tham gia vào Bữa Tiệc Ly của Chúa với nhau. Cuối cùng chúng tôi có thể làm gì để đạt được sự hiệp thông trong điểm này?

ĐGH Phanxicô: Câu hỏi về chia sẻ Tiệc Ly của Chúa không phải là dễ dàng để tôi trả lời, hơn hết đứng trước một nhà thần học như Đức Hồng Y Kasper! Tôi sợ!

Tôi nghĩ Chúa nói với chúng ta như thế nào khi Người ban cho chúng ta lệnh này “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, và khi chúng ta chia sẻ Tiệc Ly của Chúa, chúng ta nhớ lại và chúng ta bắt chước giống như Chúa. Và sẽ có Bữa Tiệc Ly của Chúa, sẽ có bữa tiệc vĩnh cửu ở Jerusalem mới, nhưng đó sẽ là Bữa tiệc cuối cùng. Trong khi chờ đợi, tôi tự hỏi mình – và không biết làm thế nào để trả lời – những gì cô đang hỏi tôi, tôi tự hỏi mình về câu hỏi này. Để chia sẻ bữa tiệc của Chúa: Đó có phải là cùng đích hay là của ăn đàng [quy định] trong cuộc lữ hành? Tôi để lại câu hỏi đó cho các thần học gia và những người am hiểu.

Đúng là trong một ý nghĩa nào đó, để chia sẻ có nghĩa là không có sự khác biệt giữa chúng ta, rằng chúng ta có cùng một giáo lý – hãy chú ý từ đó, một từ khó hiểu – nhưng tôi tự hỏi mình: nhưng chúng ta chẳng phải có cùng bí tích Rửa Tội đó sao? Nếu chúng ta có cùng một Phép Rửa, lẽ nào chúng ta không thể đồng hành? Cô là một nhân chứng của một cuộc hành trình sâu sắc, một hành trình hôn nhân: một hành trình thực sự của gia đình và tình yêu con người và của một đức tin được chia sẻ, phải không? Chúng ta có cùng bí tích Rửa Tội.

Khi cô cảm thấy mình là một tội nhân – và tôi cảm nhận nhiều hơn về một tội nhân – khi chồng của cô cảm nhận là một tội nhân, cô đi với Chúa và cầu xin tha thứ; chồng cô làm tương tự và cũng đến với linh mục xin tha tội. Tôi được chữa lành để tiếp tục sống Bí Tích Rửa Tội. Khi cô và chồng cầu nguyện với nhau, Phép Rửa ấy lớn lên, trở nên mạnh mẽ hơn. Khi cô dạy cho con mình rằng Chúa Giêsu là ai, tại sao Người đến, những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta, thì cô và chồng cùng làm giống nhau, đó là ngôn ngữ của người Tin Lành hay của người Công giáo, nhưng nó là như nhau. Câu hỏi đặt ra: còn Bữa Tiệc Ly [của Chúa]? Có những câu hỏi mà, chỉ khi chân thành với chính mình và với một chút ánh sáng thần học mà người ta có được, mới tự giải đáp cho chính mình. Hãy xem bản thân mình. Đây là mình thầy. Đây là máu thầy. Do đó trong ký ức của tôi – đây là một của ăn đàng giúp chúng ta trong cuộc hành trình.

Tôi từng có một tình bạn tuyệt vời với một giám mục Anh giáo người từng mắc một chút sai lầm – anh ta 48 tuổi, đã kết hôn, có hai đứa con. Đây là một sự khó chịu với anh ta – một người vợ Công giáo, mấy đứa con cũng là người Công giáo, ông là giám mục. Ông đi cùng vợ và các con của mình đến Thánh lễ Chúa nhật, và sau đó đi đến thờ phượng với cộng đồng của mình. Đó là một bước tham gia vào Bữa Tiệc Ly của Chúa. Sau đó, anh ta đã tiến tới, Chúa đã kêu gọi anh, một người công chính. Đối với câu hỏi của cô, tôi chỉ có thể trả lời bằng một câu hỏi: Tôi có thể làm những gì với chồng tôi, vì Tiệc Ly của Chúa đồng hành cùng tôi trên con đường của tôi?

Đó là vấn đề mà mỗi người phải trả lời, nhưng một mục sư bạn đã từng nói với tôi: “Chúng ta tin rằng Chúa đang hiện diện ở đó, Người đang hiện diện. Tất cả quý vị tin rằng Chúa đang hiện diện. Và do đó, sự khác biệt là gì?” – “À, có những giải thích, diễn giải”. Cuộc sống thì lớn lao hơn so với các giải thích và diễn giải. Hãy luôn luôn xem lại bí tích rửa tội của quý vị. “Một đức tin, một phép rửa, một Chúa.” Đây là những gì Thánh Phaolô nói với chúng ta, và kế đó hãy lấy kết quả từ đó. Tôi sẽ không bao giờ dám cho phép điều này, bởi vì nó không phải là thẩm quyền của tôi. Một phép rửa, một Chúa, một đức tin. Hãy thưa chuyện với Chúa và sau đó tiến bước. Tôi không dám nói gì thêm.

Quý vị cũng có thể nhận thấy hữu ích để xem video (có phụ đề) này, vì điều này truyền tải nhiều tâm trạng và giai điệu của câu trả lời:

Có rất nhiều suy nghĩ bộc phát ra văn bản ở video trên, và không một chút thận trọng. Nhưng cũng có rất nhiều bối cảnh vốn vẽ ra một bức tranh khá rõ ràng. Đó là một điều rất kỳ lạ thực sự khi người đứng đầu bảo vệ Đức Tin Công giáo lại không biết làm thế nào trả lời câu hỏi về Bí tích Thánh Thể – báu vật quan trọng nhất của đạo Công giáo. Bởi sự thừa nhận của riêng ngài.

Đáng chú ý trong ý kiến của ĐGH là sử dụng ngôn ngữ của ngài liên quan đến một “bữa tiệc” hoặc “bữa ăn tối” – nhưng không một lời nào về Hiến lễ. Khái niệm này của phụng vụ và Thánh Thể được kết nối bên trong nó như một bữa ăn chủ yếu là, một lần nữa, hòa hợp với sự nhạy cảm hơn của người Tin Lành hơn đối với người Công Giáo đích thực. Giáo Hội đã luôn luôn, hoặc ít nhất là trước khi nghi thức cử hành Thánh Lễ theo nghi thức truyền thống bị hủy bỏ vào năm 1969, thể hiện bản chất thực sự của Bí Tích Thánh của Bàn Thờ trong một số cách xác thực hơn: cũng một hy lễ của Calvary, được tái diễn trong một cách không còn đổ máu, nhưng dưới hình bánh và rượu; Chúa Kitô là của lễ chuộc tội và lễ vật cứu chuộc, là Chiên Thiên Chúa, là sát tế thật được dâng trên bàn thờ của lễ hiến tế như một sự hy sinh cho sự cứu chuộc chúng ta, vv… Trong khi Bữa Tiệc Ly thực sự là nơi Thánh Lễ – và Thánh Thể cùng với Bữa Tiệc Ly – được thiết lập, chính là trên Thánh Giá vốn đi vào sự viên mãn của nó. Việc công nhận rằng, ở mỗi Thánh Lễ mà chúng ta tham dự trước Thánh Giá với Mẹ Maria, Maria Magdalena, và Thánh Gioan, và rằng Rước Lễ mà chúng ta đón nhận chính là Chúa Kitô trong hành động cứu chuộc của cuộc Khổ nạn và cái chết của Người, gợi lên trong chúng ta lòng tôn sùng Thánh Thể chứ không phải việc tưởng tượng ra một sự chia sẻ bánh đơn thuần tại một bữa tiệc Vượt Qua lại được tái diễn.

Cũng tiết lộ trong bài phát biểu của ĐGH là giai thoại trong đoạn áp chót về vị Giám mục Anh giáo đã “mắc chút sai lầm.” Danh tính của vị này là rõ ràng ứng với các chi tiết được nêu. Đó là Giám Mục Tony Palmer (xin Chúa thương xót linh hồn của ông ta), một người bạn nổi tiếng của Đức Hồng Y Bergoglio ngay cả trước khi cuộc bầu cử của ngài xảy ra, người đã, như được chỉ ra, kết hôn với một phụ nữ Công giáo. GH Francis không đề cập tới, nhưng được kể lại rộng rãi khắp nơi, thực tế là Tony Palmer (đã qua đời trong một tai nạn xe máy vào tháng Tám năm 2014) đã không được Jorge Bergoglio * khuyên theo đạo Công giáo:

Tại một thời điểm, khi Palmer mệt mỏi với cuộc sống có ranh giới ấy và muốn trở thành Công giáo, Bergoglio đã khuyên anh ta đừng cải đạo vì lợi ích của việc truyền giáo.

“Chúng ta cần phải có người bắc cầu”, Đức Hồng Y nói với anh.

Đó là một chút khó khăn để xử lý, phải không? Để được khuyên phớt lờ những thúc giục của thiên đàng và không trở thành người Công giáo từ môi miệng của người mà sau này sẽ trở thành vị Đại Diện của Chúa Kitô? Và đừng để cùng người đàn ông ấy, người chễm chệ ngồi trên Ngai Tòa Thánh Phêrô, không chừng dựa vào phán đoán của mình và khuyến khích người ta cũng giống như đã khuyến khích vị Giám mục kia trước khi vị này kết thúc cuộc hành trình của mình?

Đây là một chỉ số quan trọng trong việc tìm hiểu cách Giáo hoàng Francis xem mối quan hệ giữa Công giáo và giáo phái khác. Hết lần này đến lần khác, chúng ta tìm thấy bằng chứng rằng ĐGH không thấy có sự khác biệt quan trọng giữa người Công giáo và người không Công Giáo, và chắc chắn không có tính cấp thiết trong việc đón nhận sự viên mãn của chân lý trong Giáo Hội của Chúa Kitô, bên ngoài Giáo Hội ấy không có sự cứu rỗi. Đây không phải là ví dụ đầu tiên hoặc duy nhất; chúng ta từng đối phó vấn đề này trước kia. Thêm bằng chứng, video này của John & Carol Arnott, “sáng lập các mục tử của Catch The Fire (trước đây gọi là Toronto Airport Christian Fellowship) và người giám sát của the Partners in Harvest Network of Churches” cho thấy các cặp vợ chồng Tin Lành thố lộ chuyện Đức Giáo Hoàng Francis khuyên bảo họ ra sao trong cuộc họp của họ với ngài và ngài không quan tâm đến việc chuyển cải đạo của họ.

Vấn đề này không phải chỉ vì nó gắn liền với tính toàn vẹn tín lý, hoặc sự cứu rỗi của các linh hồn (như thể chẳng có mối quan tâm nào lớn hơn những mối quan tâm này đối với vị kế thừa Thánh Phêrô) nhưng đặc biệt trong tương quan đến cách Thánh Thể đang trở thành, qua ống kính của triều đại giáo hoàng này, là một phương tiện đưa đến cùng đích, chứ không phải tự đó chính là cùng đích. Tôi đã lưu ý trước kia rằng cả Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Đức Hồng Y Kasper thật thà nói rằng Thánh Thể “không phải là một giải thưởng” cho “sự mạnh mẽ” hay “hoàn hảo” mà là một “nguồn sức mạnh” hoặc “một nguồn dưỡng nuôi, một phương thuốc đầy quyền năng” cho những người yếu đuối. Trong khi Thánh Thể chắc chắn phục vụ mục đích này đối với những người ở trong tình trạng ân sủng vốn nhận được Thánh Thể với bản chất hợp lý, việc làm suy giảm bí tích này thành một hương hoa tinh thần được đưa ra một cách bừa bãi cho những người cần giúp đỡ dẫn đến một kết luận duy nhất: Thánh Thể phải được trao cho … tất cả mọi người. Bất kể họ có xứng đáng đón nhận hay không. Thật kinh hãi khi xem Thư Côrintô 1, 11: 27-30 bị hoàn toàn bỏ qua.

Trở lại với câu trả lời của Đức Francis khi ngài cho biết, liên quan đến niềm tin khác nhau về sự hiện diện Thánh Thể, “Ờ, có những giải thích, diễn giải. Cuộc sống lớn lao hơn so với các giải thích và diễn giải”. Ngài đang xuất hiện để nói một cách thô bạo về sự khác nhau giữa khái niệm về bản chất của bánh và rượu cùng tồn tại với cơ thể và máu của Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể, điều mà Martin Luther sử dụng để mô tả sự hiểu biết sai lầm của mình về sự Hiện diện Thật sự, và tín điều Công giáo về biến đổi bản thể. Tuy nhiên, niềm tin cũ đã bị lên án và nguyền rủa trong Giáo luật IV của Công đồng Trent:

Nếu bất kỳ ai phán rằng, sau khi linh mục đọc lời truyền phép, mình và máu của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta không ở trong bí tích Thánh Thể đáng ngưỡng mộ, nhưng chỉ có trong thời gian sử dụng, trong khi Thánh Thể đang được đón nhận, và không phải trước hoặc sau; nhưng hiện diện trong các Mình Thánh, hoặc các mảnh vụn thánh hiến, vốn được để dành hay còn sót lại sau khi hiệp thông, Mình Thánh Thật của Chúa từ nay không còn; hãy để người ấy bị nguyền rủa.

Cho đến nay chẳng có gì chúng ta đã thảo luận là không đáng kể. Nhưng đoạn cuối cùng gây cho chúng ta mối quan tâm sâu sắc hơn, bởi vì nó cho thấy không chỉ suy nghĩ của giáo hoàng, mà là một chương trình hành động. Hãy nhìn vào phần có liên quan một lần nữa:

Tôi sẽ không bao giờ dám cho phép điều này, bởi vì nó không phải là thẩm quyền của tôi. Một phép rửa, một Chúa, một đức tin. Hãy thưa chuyện với Chúa và sau đó tiến bước. Tôi không dám nói gì thêm.

Trong phần lớn các bình luận tôi nhìn thấy – bình luận cố gắng hết sức để khoăn tròn điểm chính của giáo hoàng – tâm điểm là chữ “dám” đầu tiên. ĐGH nói rằng ngài sẽ không dám “cho phép điều này.” “Điều này” là gì? Chấp nhận cho người Tin Lành rước lễ tại các nhà thờ Công giáo. Ngài nói rằng đó là “không thuộc thẩm quyền của tôi.” Điều này, như Cha Z lưu ý hôm thứ Hai, là hoàn toàn chính xác. Trong những gì tôi chỉ có thể nghi ngờ là một nỗ lực để dập tắt một hoảng sợ, tuy nhiên, Cha Z cố gắng làm cho nó nghe ra như thế là nơi mà câu hỏi dừng lại:

Rất nhiều người trở nên giận dữ và bối rối về một số điều mà ĐGH Phanxicô nói … và không nói … và sau đó nói rồi lại bỏ lửng trong cùng một lúc. Thật là bực bội phải cố gắng tìm hiều ngài. Ví dụ, ngài có xu hướng để nói về những điều xúc phạm giáo lý và lề luật, như thể chúng không quan trọng. NHƯNG … NHƯNG … ngài không thực sự nói rằng chúng không quan trọng.

Có những giọng điệu và những từ ngữ kết hợp với những gì ngài nói. Chúng ta bị bỏ lửng để gỡ rối cho các nút thắt.

Điều đó nói rằng, đối với vấn đề này, Đức Giáo Hoàng tuyên bố rõ ràng:

“Tôi sẽ không bao giờ dám cho phép điều này, bởi vì nó không phải thuộc thẩm quyền của tôi.”

Trước khi bất cứ ai muốn nhìn xa hơn, hãy đọc một lần nữa và lặp lại nó cho chính mình. ĐGH không nói rằng người Tin Lành có thể rước lễ.

Điều này cũng chính xác nếu chúng ta là người hợp pháp Rước Lễ. ĐGH đã không đưa ra một cách rõ ràng cho phép người tin Lành rước lễ. Nhưng – và đây là một ngạc nhiên “nhưng” – ngài cũng không nói với họ đừng làm. Trong thực tế, ngài nói bóng gió rằng nó tùy thuộc vào họ. Ba câu cuối cho phép ngầm để làm điều đó:

“Một Phép rửa, một Chúa, một đức tin.” Hãy thưa chuyện với Chúa và sau đó tiến tới. Tôi không dám nói gì thêm.”

Ồ, nhưng ngài phải nói thêm một điều gì đó chứ, thưa Đức Giáo Hoàng! Đó là nhiệm vụ cao cả ngài phải làm như vậy. Cha mẹ tốt, cho dù họ có muốn hay không, vẫn phải nói “không” với con cái của họ khi chúng đang làm điều gì đó sẽ làm hại bản thân. Thậm chí nếu đứa con thực sự rất muốn làm điều đó.

Tất nhiên, chúng ta không nên quá ngạc nhiên bởi điều này, ngay cả khi chúng ta tìm thấy sự thật về nó chứ không phải chỉ sốc mà thôi. Chúng ta đã nhận được nhiều cảnh báo rằng đây là những gì GH Francis tin tưởng. Chúng ta đã nhận ra sự thiên vị của ngài dành cho Kasper suốt quá trình Thượng Hội Đồng (và ngay cả trong các tuyên bố trên), cùng với việc từ chối của ngài để giữ khoảng cách với cái gọi là ” đề nghị của Kasper”. Chúng ta đã thấy nó trong việc ngài từ chối trấn an các phần tốt hơn của một triệu người Công giáo vốn đã gửi cho ngài thỉnh nguyện thư đầy hiếu thảo. Chúng ta đã thấy nó trong cuộc phỏng vấn mới nhất của ngài với Eugenio Scalfari, khi ngài Francis nói, “những đánh giá thực tế được giao phó cho các cha giải tội, có những trường hợp nhanh hơn hoặc chậm hơn nhưng cuối cùng thì tất cả những người ly dị yêu cầu [được rước lễ] sẽ được chấp nhận”. Chúng ta đã thấy thêm một tín hiệu trong bài viết gần đây của Cha Spadaro, thân cận của Giáo hoàng Francis, trong đó ông chỉ ra rằng Thượng Hội Đồng đã bỏ ngỏ cánh cửa rước lễ cho người ly dị và tái hôn – một bài viết mà các nhà quan sát Vatican tin là biểu hiện của tâm trí của đức Francis về chủ đề này.

Tại sao tôi nói ở đây về chuyện Rước lễ dành cho người ly dị và tái hôn khi mà chủ đề là rước lễ dành cho người Tin Lành? Bởi vì đó là tất cả của một mảnh. Thư Côrintô 1, 11:28 làm rõ vấn đề này rằng chúng ta phải tiếp cận Thánh Thể như thế nào: “Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này” Những gì Francis, Kasper, và những người khác đang ủng hộ là ý tưởng rằng việc xét mình này là không cần thiết. Rằng thay vì sợ hãi vì chúng ta “ăn và uống án án phạt (hay lên án) chống lại” chính chúng ta nếu chúng ta rước lễ cách không xứng đáng, thì chúng ta nên xem nó như là phương tiện mà chúng ta có thể được mạnh mẽ trên “hành trình” của chúng ta. Đây là một hình thức thái quá của chủ nghĩa thực dụng, trong đó chúng ta sử dụng Thiên Chúa – trước tiên và sau cùng – để thực hiện một số điều khác, điều ít quan trọng hơn. Nếu điều chúng ta xứng đáng đón nhận Chúa bị coi là một vấn đề không quan trọng, thì làm sao người ta có thể xem Thiên Chúa vượt trên con người và bản thân con người được?

Tất nhiên, chủ nghĩa cá nhân kiểu này có thể sản sinh ra các chỉ số khác – như, mối quan tâm quá mức đối với hạnh phúc vật chất của người nghèo, phân phối tài nguyên, hoặc chăm sóc cho môi trường – hơn là và trên cả mối quan tâm cho phần rỗi các linh hồn.

Chúng ta đang ở một điểm mà người ta hầu như không thể tin rằng Đức Giáo Hoàng Francis đang tình cờ làm những việc này. Hệ tư tưởng của ngài được đan xen với niềm tin Công giáo, nhưng nó cũng nhằm mục đích đan chéo với nó. Các báo cáo như chuyện làm cho người phụ nữ Tin lành ở trên, hoặc những lý do sai trái che giấu ý định thực sự được nổi lên trên phương tiện truyền thông thông qua người đại diện như Scalfari, cho biết rằng ông cảm thấy bị ràng buộc bởi giới hạn chức vụ của mình trong việc hoàn thành chương trình nghị sự. Một linh mục – một trong những “Nhà Truyền Giáo Lòng Thương Xót” mới gây ngạc nhiên – vừa công bố một bức thư ngỏ cho Giáo hoàng Francis, cảnh báo rằng nếu ngài tiếp tục cố gắng tiếp tục chống đối các học thuyết của Giáo Hội, Thiên Chúa sẽ ngăn chặn ngài, và ngài sẽ ” hoặc là chết hoặc bị mất năng lực, giống như Đức Giáo Hoàng Sixtus V đã bất ngờ chết trước khi ông có thể thực hiện được ý riêng của mình về một vấn đề cũng đụng chạm đến hôn nhân và ly dị…” Tuy nhiên, tất cả các lần xuất hiện thì ngài Francis lại quá thông minh để thử một cái gì đó như thế. Thay vào đó, ngài đã tìm ra cách để đánh bại những hạn chế áp đặt trên mình bằng ơn bất khả ngộ của giáo hoàng. Phương pháp của ngài không bao giờ vi phạm văn tự của lề luật, trong khi vẫn giết người về mặt linh hồn. Ngài không mời kẻ thù vào bên trong, mà chỉ đơn thuần là mở tất cả các cửa trong quan điểm đầy đủ của đối phương.

Trong một phần nhận xét của giáo hoàng đối với người Tin Lành của nhà báo tại Rome là Edward Pentin, một nguồn tin bên trong Vatican đặt nó rõ ràng:

Những lời của ĐGH đã gây ra mối quan tâm rộng rãi ở Rome, khiến một số người cực đoan mô tả chúng như là một cuộc tấn công vào các bí tích. “Ranh giới điều cấm đã bị vượt qua”, một nguồn tin thân cận với Vatican cho biết. “Đức Giáo Hoàng nói điều đó một cách duyên dáng, nhưng điều này thực sự đang chế nhạo giáo lý. Chúng ta có bảy bí tích, không phải là một.”

Sau đó cùng ngày, Pentin đã đăng tải trên Twitter điều này:

Rủi ro đang lặp đi lặp lại, tôi muốn nói lại một lần nữa: Giáo hoàng Francis đang làm thiệt hại Giáo Hội điều mà sẽ mất một thời gian rất dài để sửa chữa, và người Công giáo ngày càng đang tỉnh thức. ĐGH cũng đang phơi bày, một lần và cho tất cả, sự trái ngược của hậu công đồng tư tưởng từ các pháo đài chiến đấu thử nghiệm của Công giáo chánh tông. Cha Regis Scanlon gần đây cho biết – trong tài liệu tham khảo đặc biệt đối với Humanae Vitae, tránh thai, và các vấn đề liên quan đến hôn nhân – rằng Giáo Hội “phải bắt đầu nơi Giáo hội đã rẽ lối vào năm 1968 và tiến về phía trước với những ai là người Công giáo.”

Điều đó sẽ phải xảy ra – nhưng nó không thể chỉ bị giới hạn trong vấn đề cuộc sống và giáo lý tình dục. Nó cũng sẽ phải bao gồm các lĩnh vực giáo lý, phụng vụ, và thực hành nữa.

Hãy cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng Francis. Hãy cầu nguyện rằng Chúa sẽ chiếu soi ánh sáng sự thật trên ngài, để ngài nhận ra những gì mình đang làm, và hậu quả là những gì. Và hãy cầu nguyện cho người kế nhiệm ngài, rằng vị ấy sẽ được cả hai ơn thánh thiện và khôn ngoan, nhưng cũng can đảm, và bắt rễ sâu trong truyền thống của Giáo Hội. Vị ấy sẽ có một việc lớn ở phía trước, và việc đó không phải là cố gắng để không đập vỡ những gì đang bị phá vỡ.

Chúng ta đang sống trong thời nguy hiểm.


Tác giả: Steve Skojec (Ngày 18 tháng 11, 2015)

*Tên của ĐGH khi còn làm Hồng Y

NGHE RADIO CÔNG GIÁO

SỨ ĐIỆP

complex{fbig2}/Su Diep Chua Giesu,Su Diep Chua Cha,Su Diep Duc Me

SỐNG ĐẠO

complex{fbig2}/Song Dao,Cac Thanh,Guong Sang,Cau Nguyen

ĐIỀM BÁO

complex{fbig2}/Dau Chi Thoi Dai,Dau Hieu Thoi Cuoi,Diem Bao

GIÁO HỘI

complex{fbig2}/Tin Giao Hoi,Vatican,Giao Hoang

CHIA SẺ

complex{fbig2}/Suy Tu,Chia Se,Suu Tam

ĐỜI SỐNG

complex{fbig2}/Tong Hop, Suc Khoe, Doi Song

NGHE

complex{fbig2}/Audio, Bai Giang, Am Nhac

XEM

complex{fbig2}/Video, Thanh Ca,

ẢNH

[Duc Giao Hoang][gallery2]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.