Bài Viết by "Truyện Các Thánh"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Têrêsa thấy  tình đời đen bạc

Con vừa dễ cảm vừa hay thương, nên nếu có ai hiểu con thì có lẽ con liền yêu hết tình ngay... Con có kết thân với hai chị cùng tuổi, con yêu hai chị lắm và hai chị cũng yêu con hết lòng: nhưng than ôi! ! ! chẳng bao lâu con biết là người ta không hiểu mối tình của con, một trong hai chị bạn của con, vì hoàn cảnh bắt buộc, phải nghỉ học mấy tháng; trong thời gian xa vắng, lòng con hằng tưởng nhớ tới chị và cẩn mật gìn giữ chiếc nhẫn chị trao cho con. Ngày chị trở lại, con mừng rỡ khôn tả, nhưng than ôi! chị chỉ đáp lại bằng cái nhìn dửng dưng... Con yêu mà không được yêu! Con biết lắm, nhưng một khi người ta đã từ chối thì con cũng không thèm ăn xin.
Chúa đã ban cho con một tấm lòng chung thuỷ đến mỗi một khi người ta đã yêu cách trong sạch thì con cũng yêu mãi, chính vì thế con vẫn yêu và cầu nguyện cho chị bạn con... Thấy chị Céline yêu một Bà, con cũng muốn bắt chước chị, nhưng vì không biết cách lấy lòng người thế gian, nên con đã thất bại. Ôi, sự vụng dại có ích lắm thay! nó đã tránh cho con bao điều đáng tiếc...
Con cảm tạ Chúa vô cùng vì đã cho con chỉ thấy "đắng cay trong tình nghĩa thế gian!" nếu không, trái tim non nớt này sẽ sa cạm bẫy và bị hớt cánh thì làm sao bay về chốn an nghỉ được (Thánh Vịnh LIV, 6.). Một khi tình yêu đã ràng buộc với tạo vật rồi, thì làm sao kết hợp mật thiết với Chúa được?...Con tưởng không thể được. Vì chưa kề môi nhấp chén thuốc độc của tình thương quá nồng nàn của các tạo vật trần ai, nên con xác-tín là con nhận xét không sai: con đã tưởng thấy nhiều linh-hồn bị mê-hoặc bởi thứ ánh sáng giả dối này, họ đã bay đến quyện chung quanh và bị cháy cánh như những con thiêu-thân, bấy giờ mới trở về với nguồn sáng chân thật và êm dịu của tình yêu, tình yêu ấy sẽ ban cho họ đôi cánh mới, rực rỡ và nhẹ nhàng hơn, để có thể bay về cùng Chúa Giêsu là ngọn lửa thần "cháy sáng mà không thiêu hủy" (Xuất-hành III, 2 và Thánh Gioan Thánh giá trong cuốn "Lửa yêu bừng sáng" (Vive flamme d'Amour), lời chú thích của triệt II).  

Ngày 29 tháng 9

Thiên Thần là sứ giả được Chúa sai đi để phục vụ công trình của Chúa và phục vụ con người mà Chúa yêu thương.
Micae có nghĩa là "Ai bằng Thiên Chúa". Thánh Micae đã chống lại thần dữ để bênh vực quyền tối cao của Thiên Chúa. Giáo Hội nhận thánh Micae như Ðấng bảo trợ và tin rằng ngài vẫn dâng lời cầu nguyện của chúng ta lên ngai tòa Chúa. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae cũng đã hiện ra với nhiều người, đặc biệt năm 708, ngài hiện ra với Ðức Giám Mục thành Arranche và Ðức Giám Mục đã xây một thánh đường nguy nga để kính dâng Ðức Micae tại Mont Saint Michel.
Gabrie có nghĩa là "Uy lực của Thiên Chúa" cũng còn gọi là "Sứ Thần truyền tin". Ngài luôn can thiệp vào những sứ mạng liên quan đến việc cứu rỗi loài người. Chính ngài đã báo cho tiên tri Ðaniel thời đại xuất hiện của Ðấng Cứu Thế và là sứ giả được phái đến cùng với Trinh Nữ Maria để loan báo ý định của Thiên Chúa, và cũng chính là người đã nhiều lần hiện ra với thánh Giuse.

Raphae có nghĩa là "Thầy thuốc của Thiên Chúa". Chúng ta biết danh hiệu của Tổng Lãnh Thiên Thần này qua những trang sách Tôbia. Chính ngài đã được Thiên Chúa sai đến giúp đỡ gia đình ông trong cơn hoạn nạn. Ngài đã giúp ông đòi được nợ, chữa ông khỏi mù và lo cho con ông được yên bề gia thất.



KINH CẦU CÙNG TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE
Lạy ơn Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, xin giúp chúng con trong cơn giao chiến, đánh phá sự hiểm ác mưu sâu quỉ dữ. Chúng con sấp mình nguyện xin Chúa chế trị nó cùng xin nguyên soái cơ bình trên trời lấy quyền phép Chúa mà hạ Satan cùng các quỉ dữ đang rong ruổi khắp thế làm hại các linh hồn bắt chúng giam cầm trong hỏa ngục. Amen 

KINH TỔNG LÃNH THIÊN THẦN GABRIE 
Lạy Thiên Chúa, Người là Đấng ngự giữa các Thiên Thần của Ngài, Chúa đã chọn Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie làm sứ thần mang tin cho sự cứu rỗi, xin thương xót chúng con để chúng con được kính nhớ Người luôn trên trần thế, và sau này cho chúng con cũng được hạnh phúc với Người trên Thiên Đàng vì Chúa là Đấng Hằng Sống, hằng trị muôn đời. Amen 

KINH TỔNG LÃNH THIÊN THẦN RAPHAE 
Lạy Thiên Chúa, xin sai Tổng Lãnh Thiên Thần Raphae xuống phù giúp chúng con. Xin Người là đấng chầu trước nhan thánh Chúa, dâng những lời nguyện cầu của chúng con lên Chúa, nhân danh Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen 

KINH THIÊN THẦN BẢN MỆNH 
Thiên Thần của Chúa là Thiên Thần Bản Mệnh yêu dấu của con. Nơi Ngài tình yêu của Chúa được ban cho con. Mỗi ngày, xin Ngài hãy ở cạnh bên con để soi sáng và canh giữ, để điều khiển và hướng dẫn con. Amen.

ĐỐI THOẠI - Thánh Catarina Siena - Phần 1: Tiểu sử

TIỂU SỬ THÁNH CATARINA SIENA 

Thánh Catarina tên gọi trong gia đình là Caterina di Giacomo di Benincasa, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1347 tại thành Siena nước Ý. Thánh nữ là con thứ 24 trong 25 anh chị em, nhưng người em sinh đôi mất năm vào năm 1363 nên Catarina trở thành con út trong gia đình, một gia đình nghèo khó nhưng đạo đức. 

Thân phụ của thánh nữ là ông Giacomo di Benincasa, hội viên dòng ba Phan Sinh, làm nghề thợ nhuộm. Thân mẫu là bà Lapa Piagenti con của một thi sĩ nổi tiếng. Hai ông bà sinh hạ được 25 người con.

Catarina sinh ra với thân xác yếu ớt. Từ thuở bé Catarina đã được học giáo lý và biết đọc kinh Mân Côi cách sốt sắng. Thỉnh thoảng bé Catarina quỳ gối leo từng bậc thang trong nhà để lần chuỗi.

Cuộc gặp gỡ nhiệm màu 

Hồi lên 6, một hôm đang cùng anh Stephano đi bộ trên đường từ nhà anh về nhà cha mẹ, Catarina nhìn lên bầu trời, hướng về nhà thờ thánh Đa Minh, được nhìn thấy một cảnh tượng làm thay đổi cả cuộc đời. Catarina nhìn thấy Chúa Giêsu, y phục như Đức Giáo hoàng, áo viền kim tuyến, đội vương miện rực rỡ, Chúa ngự trên ngai vàng, bên cạnh có thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh Gioan chép sử. Chúa Giêsu không nhìn các vị đó mà lại đưa mắt nhìn Catarina cách rất âu yếm và mỉm cười.

Catarina đứng sững sờ nhìn. Chúa Giêsu tiến lại gần Catarina, làm dấu thánh giá trên em và ban phép lành. Em ngây ngất nhìn ngắm Chúa như không cảm thấy sự gì bên ngoài nữa, nhưng cảm nhận tình mến yêu Chúa đầy ắp linh hồn với một niềm hoan hỉ chưa từng cảm nhận bao giờ.

Cuộc gặp gỡ nhiệm màu khiến Catarina ước ao sống đời hiến dâng và cầu nguyện. Dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, từ đây cũng như trước đó, theo sự hướng dẫn của cha linh hướng Raymond Capua, Catarina phục vụ những người xung quanh, nhất là những người bệnh tật, già yếu, những người nghèo khổ và những kẻ bị tù đày.

Sống đời hiến dâng và cầu nguyện

Trong thời gian này, Catarina thường thăm viếng Andrea, một bệnh nhân rất khó tính, nóng nảy và miệng lưỡi thô tục. Mỗi khi đến chăm sóc cho y là mỗi lần nàng nhận lấy những tràng chửi rủa và mỉa mai.Vì muốn đưa Andrea về với Chúa nên Catarina đã dâng mọi hy sinh cho Chúa, không một lời than trách, chống lại. Sau một thời gian, bệnh tình của Andrea trở nên trầm trọng, y thay đổi tính tình, tỏ ý muốn trở về với Chúa. Hôm đó, khi chăm sóc vết thương ung thư trên ngực của Andrea, mở băng ra thì mùi hôi thối xông lên. Catarina đã giật nảy mình và muốn ói mửa. Catarina đã hối hận vì hành động quá tự nhiên, nghịch với ý chí yêu thương và phục vụ của mình. Nàng sợ đã vô tình làm Andrea buồn lòng, bởi vậy sau khi đã rửa sạch vết thương của y trong một cái chậu, nàng đã uống thứ nước đầy máu mủ đó.Catarina đã kể lại với cha linh hướng Raymond rằng: "Từ khi sinh ra, con chưa bao giờ ăn hay uống thứ gì ngọt ngào và ngon lành như thế!". 

Cũng đêm ấy, trong khi Catarina đang cầu nguyện, Chúa Giêsu đã hiện ra và khen thưởng nàng vì đã để đức bác ái chiến thắng những phản ứng tự nhiên của mình. Rồi Chúa Giêsu biểu Catarina kề miệng vào để uống từng vết thương nơi cạnh sườn Ngài. Chúa nói: 
- Con yêu dấu, hãy uống từ cạnh sườn thầy. Nhờ đó linh hồn và thân xác con sẽ được vui mừng hân hoan, bởi con đã từ bỏ mình vì thầy, con sẽ được tràn ngập sự trọn lành.
Thân xác và linh hồn tràn trề ân sủng

Cha linh hướng Raymond cũng là người viết tiểu sử Catarina đã coi đây là một sự kiện phi thường, là tột đỉnh đời sống của một tâm hồn anh hùng. Cha còn cho biết, từ khi Catarina được uống từ vết thương cạnh sườn Đấng Cứu thế, linh hồn nàng tràn ngập ân sủng và tràn ra cả ngoài thân xác. Bởi vì thân xác Catarina gần như không cần đến lương thực đời này nữa, trong thời gian ăn chay 40 đêm ngày, nàng chỉ uống nước lã và rước Thánh thể, cầu nguyện và làm việc tông đồ.

Có một lần ma quỷ hiện ra dưới hình người ghê tởm để cám dỗ Catarina, một sự cám dỗ thô bỉ chưa từng xảy ra cho nàng, Catarina cảm thấy mình trải qua một sự cô đơn đau khổ nhất đời, và thấy như Thiên Chúa bỏ rơi mình. Nàng đã kêu lên:
- Ôi lạy Chúa! Chúa ở đâu khi tâm hồn con quá đau đớn và buồn bực vì sự cám dỗ ghê tởm và tồi tệ đó?
Chúa đã hiện ra, và nói:
- Con yêu dấu, Cha vẫn ngự trong linh hồn con, thêm sức cho con bằng ân sủng của Cha.
Bởi vì nếu Thiên Chúa không ở trong tâm hồn Catarina, thì linh hồn đã trống vắng và tên ác quỷ đã chiếm ngự nơi đó rồi.
Sự xấu xa kinh tởm của ma quỷ đã được Catarina lặp lại trong cuốn "Đối thoại", nàng viết: "Thà con bước đi trên đống lửa cho đến ngày phán xét chung, chẳng thà nhìn thấy tên quỷ ghê tởm đó một lần nữa".

Làm nhiều dấu lạ 

Ngoài những lần Chúa hiện ra như thế, và ngoài công việc bác ái xã hội, Catarina là một thiếu nữ đơn sơ chất phác, được Chúa cho làm nhiều dấu lạ, như chữa lành bệnh nhân trong thời gian ôn dịch lây lan khắp Bắc Ý.

Ngoài ra, lịch sử còn nói cho biết, tuy là một thiếu nữ vốn yếu đuối và ít học, vậy mà Thiên Chúa đã dùng Catarina làm người giảng hòa giữa nhiều tiểu vương và nhiều thành trì của nước Ý, cũng như đã thuyết phục và lo đưa Đức Giáo hoàng Gregory XI cùng toàn bộ giáo triều từ Avignon về lại Rome, chấm dứt cuộc lưu đày 67 năm.

Được đặt vào ban cố vấn giáo triều, Catarina nhiều lần thúc giục Đức Urban VI cải cách hàng giáo sĩ và tu sĩ. Theo một bức thư của nữ cố vấn này, Đức Thánh Cha ban nhiều sắc lệnh cải cách hàng giáo sĩ và giáo phẩm. 

Cuốn "Đối thoại"

Một việc khác đáng ghi nhớ trong cuộc đời thánh Catarina là trong 2 năm cuối đời (năm 1377 đến năm 1378) nàng đã viết một cuốn sách rất thời danh trong giáo hội, nhan đề là "ĐỐI THOẠI". Sự thật, Catarina đã không viết một chữ nào. Nội dung, tất cả mọi lời trong cuốn sách đều là của Thiên Chúa Cha đã nói với Người - người con rất yêu dấu của Ngài là Catarina.Người ta có thể đọc được trong sách này những tri thức sâu sắc.

Trong sắc tuyên thánh Catarina năm 1461, Đức Piô II đã khẳng định rằng: "Giáo lý của thánh nữ là giáo lý được Chúa phú bẩm, không do học hỏi mà có. Thánh nữ là một vị tôn sư. Các tiến sĩ, các giám mục đã đặt cho thánh nữ những câu hỏi khó khăn nhất về thần học, và đã nhận được những câu trả lời rất thỏa đáng". Ngoài ra, giáo hội còn giữ lại 381 bức thư Catarina đã gởi Đức Giáo hoàng, nhiều hồng y, giám mục, nhiều nhà cầm quyền, nhiều chính trị gia, các cha linh hướng, nhiều huynh đoàn và môn đệ.

Trong những năm cuối đời, từ năm 1375, tại một nhà thờ ở Pisa, Catarina được in 5 dấu cách kín nhiệm. Catarina qua đời ngày Chúa nhật ngày 29 tháng 4 năm 1380, mới 33 tuổi đời, cùng tuổi với Chúa Giêsu tắt thở trên thánh giá. Ngay sau khi qua đời, 5 dấu hiện ra rõ ràng cho mọi người xem thấy.

Tiến sĩ hội thánh 

Đức Giáo Hoàng Pio II đã ghi tên Catarina Siena vào sổ bộ các thánh năm 1461. 
Năm 1861, Đức Pio IX tôn phong thánh nữ làm bổn mạng thứ hai của thành Rome, sau thánh Phêrô tông đồ.
Thời Đức Pio XII, thánh nữ được đặt làm bổn mạng của giáo hội nước Ý cùng với thánh Phanxico thành Assisi.
Vào năm 1970, Đức Phaolô thứ VI đã tôn phong thánh nữ lên bậc tiến sĩ hội thánh, biệt hiệu "Tiến sĩ tình yêu". Người đã được Thiên Chúa dạy và ban trí thông minh với lòng sốt mến như thiên thần Seraphim, nên cũng có biệt hiệu là "Người trinh nữ Seraphim".
Lễ kính thánh Catarina hàng năm vào ngày 29/4.

Thánh Bernadette Soubirous
    (1844 - 1879)
Thánh Bernadette Soubirous tên thật là Mary Bernard, con của một gia đình thật nghèo làm nghề xay bột ở Lộ Ðức, thuộc miền nam nước Pháp. Ngay từ khi còn nhỏ, cô bị bệnh suyễn thật nặng nên sức khỏe rất yếu kém.

    Vào ngày 11 tháng Hai 1858, cô được Ðức Trinh Nữ Maria hiện ra với cô trong một cái hang nằm trên con đê của sông Gave, gần Lộ Ðức. Cô được thị kiến Ðức Trinh Nữ tất cả 18 lần, lần sau cùng vào ngày lễ Ðức Mẹ Núi Carmel, 16 tháng Bảy. Khi kể lại lần thị kiến đầu tiên, cô đã tự đặt mình vào tình trạng nguy hiểm đối với nhà chức trách. Nhưng Ðức Trinh Nữ hiện ra với cô hàng ngày đã khiến đám đông tuốn đến hang ngày càng đông. Nhà chức trách tìm cách đe dọa để cô công khai rút lui, nhưng cô vẫn trung thành với những gì được thấy.

    Vào ngày 25 tháng Hai, một suối nước chảy ra từ hang mà cô Bernadette đã dùng tay đào xới khi vâng theo lời Ðức Trinh Nữ. Nước suối ấy đã chữa được nhiều người khỏi bệnh kể cả người tàn tật.

    Vào ngày 25 tháng Ba, Bernadette cho biết trinh nữ hiện ra với cô tự xưng là Ðức Vô Nhiễm Nguyên Tội, và ngài muốn xây một nhà thờ ở đây. Nhiều giới chức dân sự tìm cách đóng suối nước lại và trì hoãn công việc xây cất nhà thờ, nhưng ảnh hưởng và tiếng vang đã thấu đến tai Hoàng Hậu Eugenie nước Pháp, vợ của Napoleon III, do đó việc xây cất được tiến hành tốt đẹp. Ðám đông lại quy tụ về Lộ Ðức, không bị phiền hà bởi các giới chức chống đối tôn giáo và hàng giáo sĩ.

    Vào năm 1866, Bernadett được gửi vào dòng Nữ Tu Ðức Bà ở Nevers. Ở đây, sơ trở nên một phần tử của cộng đoàn, và bị sơ giám đốc đệ tử đối xử rất tệ hại. Sự bất nhẫn ấy chỉ chấm dứt khi họ khám phá rằng sơ Bernadette đang chịu đau khổ vì một căn bệnh bất trị. Sơ từ trần ở Nevers vào ngày 15 tháng Tư 1879, khi mới 35 tuổi.

    Lộ Ðức đã trở nên trung tâm hành hương lớn nhất thế giới, và suối nước nhỏ bé ấy hàng ngày vẫn cung cấp nước cho khách thập phương từ khắp nơi trên thế giới.

    Sơ Bernadette được phong chân phước năm 1925, và được Ðức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh năm 1933.

Têrêsa tự thú về tính tự ái, thích mặc đẹp
Thưa Mẹ, Mẹ thấy rồi đó, con không phải là đứa bé không có tật xấu !
Câu “khi ngủ thì ngoan” cũng không áp dụng cho con được, vì ban đêm con còn hiếu động hơn ban ngày; con tung hết cả chăn đi rồi đập đầu vào thành giường (tuy vẫn ngủ) : vì đau nên tỉnh giấc, con kêu :
-“Má, con bị đụng đầu !...”.
Thế là Má lại phải dậy, và quả thật trán con đã sưng lên, con bị đụng thật; Má đắp chăn lại cho con, rồi đi ngủ. Một lát sau con lại bị đụng nữa, thế là Má phải trói con vào giường. Tối nào chị Céline cũng phải buộc lại các nút giây, để con khỏi bị đụng đầu và làm Má mất ngủ; phương pháp này rất hiệu nghiệm, vì con ngủ ngoan ngoãn.

Con còn một nết xấu nữa mà Má không nói trong thư, đó là lòng tự ái. Để câu chuyện khỏi dài quá, con xin kể cho Mẹ hai mẩu thôi : có một hôm Má bảo con “Têrêsa cưng của má à, con cúi xuống hôn đất đi, má sẽ cho con một xu”. Một xu đối với con thì thật là giàu quá; để kiếm xu, con chỉ việc cúi xuống chút đỉnh, vì thân con bé bỏng không xa đất là mấy, nhưng nghĩ đến “hôn đất” lòng tự ái con vùng lên, con đứng ngay người và thưa :
-“Ô !  Thưa Má, con không chịu đâu, thà không có xu thì hơn !...”.

Lần khác gia đình ta đi Reogny thăm bà Monnier [Bà Monnier là chị mẹ đỡ đầu của Léonie tức là Bà Tifenne]. Má bảo chị Marie lấy cái áo đẹp màu thanh thiên và có ren mặc cho con, nhưng đừng để hở cánh tay kẻo bị cháy nắng. Con để mặc chị Marie mặc cho con và làm bộ không đếm xỉa gì đến chuyện đó như thói thường của những trẻ con đồng lứa, nhưng con nghĩ bụng : giá để hở cánh tay có phải là xinh hơn không?
Với tính nết ấy, nếu không được cha mẹ đạo đức dạy dỗ, hay nếu con được chị ở Louise [Louise Marais, người giúp việc cho gia đình Martin cho tới khi bà Martin qua đời.] cưng chiều như Céline thì có lẽ bây giờ con xấu nết lắm và hư mất cũng chưa biết chừng... Nhưng Chúa Giêsu đã gìn giữ vị hôn thê của Người, Người đã làm cho mọi sự trở nên tốt lành cho con, Người đã chế ngự nết xấu của con từ lúc còn nhỏ bé, nên những nết xấu ấy lại giúp con tiến bước trên đường trọn lành.

Têrêsa thích việc lành và quí mến chị Céline

Con giầu lòng tự ái, nhưng cũng yêu mến việc lành, thoạt khi con bắt đầu biết suy nghĩ (con biết suy nghĩ từ lúc còn nhỏ lắm) thì chỉ cần có người bảo cho con biết, việc nào không tốt, là con không cần họ nhắc lại lần thứ hai...

Con sung sướng thấy Má viết trong thư là con càng lớn, Má càng được an ủi về con. Xung quanh con toàn là gương sáng, con chỉ có việc học đòi bắt chước. Đây là lá thư của Má viết năm 1876:

“Cả đến con Têrêsa đôi khi cũng đua hy sinh hãm mình... Con bé xinh như mộng, tinh anh sắc sảo, nhưng dễ cảm, Céline và nó yêu nhau lắm ; hai đứa chơi với nhau không biết chán. Cứ ăn cơm trưa xong là con Céline đi bắt con gà trống và bắt luôn cả gà mái của Têrêsa ; Má chưa kịp gì, thì con Têrêsa nhanh chân chộp rồi ; thế là cả hai đứa ôm gà lại ngồi chơi thật lâu bên lò sưởi. [Vú Rose – vú nuôi của Têrêsa – đã cho con một cặp gà, con biếu chị Céline con trống]. 
Có một hôm, con Céline ngủ chung với má, còn Têrêsa thì ngủ ở trên lầu, trong giường của Céline ; nó bảo Louise lên đưa nó xuống mặc áo, Louis lên gác tìm nhưng thấy giường trống không, Thì ra Têrêsa nghe tiếng Céline nói ở tầng dưới, nên mò xuống nằm chung nhau. Louise gọi :
-Em không xuống mặc áo hay sao ?
-Không đâu ! Vú Louise ạ !  chúng em như hai con gà mái con, không bỏ nhau được.
“Vừa nói chúng nó vừa ôm hôn nhau... Đến tối Louise, Céline và Léonie đi câu lạc bộ Công giáo [Câu lạc bộ thiết lập tại các tỉnh lớn nước Pháp là do sáng kiến của Bá Tước Albert de Mun, câu lạc bộ có tổ chức hòa nhạc và các cuộc chơi giải trí khác.] và bỏ con Têrêsa ở nhà ; nó biết mình còn bé không đi được , nên bảo :
-Ở nhà cũng được, miễn là phải cho ngủ trong giường của chị Céline !...
Nhưng không ai muốn thế... nó không nói gì và ở nhà một mình với cây đèn nhỏ, một khắc sau nó ngủ khì ...”.
[Thư bà Martin gửi Pauline, ngày 8-11-1876]

Trong một lá thư khác Má viết :
“Con Céline và Têrêsa, hai đứa không lúc nào rời nhau, nhất định không thể có đứa nào thương nhau hơn hai đứa này. Khi Marie gọi con Céline đi  học, thì con Têrêsa òa lên khóc. Than ôi bạn đi rồi, bây giờ làm thế nào !... Thấy thế, Marie cũng thương hại, nên bế nó đi theo và suốt hai ba giờ, con bé cứ ngồi yên trên ghế. Marie cho nó một mớ hạt trai để xâu và một miếng vải để may, nó không dám cựa quậy, xỏ lại mà không được; nó sợ không dám nhờ Marie xỏ giúp ; trông nó đến hay. Được một lúc, thì hai giọt nước mắt lăn trên má... Marie vội dỗ nó, xỏ kèm cho nó, thế là con bé vừa khóc vừa cười...”
[Thư bà Martin gửi cho Paulin, ngày 4-3-1877]  

Con còn nhớ : con không thể sống một mình mà không có chị Céline, đang ăn tráng miệng mà chị đứng dậy, thì con cũng bỏ dở để theo, con cứ loay hoay trên ghế, đòi nhắc xuống, rồi cả hai đứa đi chơi. Đôi lần chúng con đi chơi với “bà tỉnh trưởng tí hon”, xem vườn cảnh và các thứ đồ chơi thật đẹp của nó thật là khoái chí. [Trẻ con dễ quen biết nhau, vả lại gia đình Martin ở đối diện với dinh Tỉnh Trưởng.]   Nhưng đúng ra con đi chơi là vì muốn chiều lòng chị Céline, hơn là thích nhà ông tỉnh trưởng. Con thích chơi ở vườn nhà, đi cạy tường,  để lượm những mảnh vụn lóng lánh, đêm về bán cho Ba và Ba giả vờ mua như thật.

Ngày Chúa nhật, vì con còn bé không được đi dự các nghi lễ ở nhà thờ nên Má ở nhà trông con; lúc ở nhà thờ đang làm lễ thì ở nhà con tỏ ra rất ngoan ngoãn, con đi lại rón rén.
Nhưng thoạt khi thấy cổng mở là con mừng quýnh lên : con chạy ra đón chị xinh đẹp  của con , vì bấy giờ chị như một “ngôi nhà nguyện trang hoàng đẹp đẽ...” [kiểu nói thân mật của ông Martin]. Con nói : “Chị Céline, cho em một cái bánh phép đi !” Có lần tới trễ, nên không có bánh phép... Làm thế nào bây giờ? Con nhất định không chịu, vì đó là “lễ Misa của con”... Con vụt nghĩ ra một cách : -“Nếu không có bánh phép, thì chị làm đi cũng được”. Nói xong là làm liền, chị Céline bắc ghế, mở tủ, lấy bánh, rồi cắt lấy một mẩu và trịnh trọng cúi mình đọc kinh Kính Mừng đoạn trao cho con; làm dấu xong, con ăn một cách thành kính và thấy ngon như bánh phép thật.

Thỉnh thoảng chúng con hội nhau để thảo luận về truyện đạo; đây là một tỷ dụ con trích trong thư của Má ; “Hai con bé Céline và Têrêsa tốt lành như Thiên thần, con Têrêsa là nguồn vui, hạnh phúc và vinh dự của Marie, Marie lấy làm hãnh diện về nó lắm. Nó còn bé mà ăn nói khôn ngoan quá, nó còn dậy vẽ cho cả Céline lớn gấp hai nó. Hôm nọ con Céline hỏi :
-Chúa làm thế nào mà ở trong tấm bánh nhỏ xíu như vậy được nhỉ? Con bé trả lời ngay :
-Thế thì có lạ gì, vì Chúa quyền phép vô cùng mà lị.
-Quyền phép vô cùng là gì ?
-Là Chúa muốn làm gì cũng được...
[Thư bà Martin gửi cho Pauline ngày 10-5-1887]

http://www.xuanha.net/S-TeresaHD-Thubantuthuat/3c-teresatuthuvetinhtuai.htm

Têrêsa yêu quí các chị

Con thương Vú đỡ đầu (Vú đỡ đầu của Têrêsa là chị Cả Marie) con lắm. Tuy bề ngoài không có vẻ gì, nhưng con để ý hết những việc và những lời nói xung quanh con. Hình như bấy giờ con cũng biết suy xét  như bây giờ, để làm việc gì cũng giống như chị Marie, nên con rất chú ý nghe chị ấy dạy chị Céline.
Sau khi chị Marie mãn học ở trường Thăm viếng về (Marie ra trường ký túc xá tháng 7-1875) chị dạy Céline ở trong phòng, con phải ngoan và chị muốn gì con cũng làm, để được vào phòng học; chị lại cho con nhiều quà lắm, mặc dầu chả đáng giá gì, nhưng con cũng thích lắm.

Con rất hãnh diện về hai chị của con, nhưng chị lý tưởng của con lúc bấy giờ là Pauline...  Khi con vừa biết nói và khi Má hỏi con : “Con nghĩ gì thế ? thì con thưa ngay: “Con nghĩ đến chị Pauline !...”  Một lần khác con lấy ngón tay viết lên gạch và miệng thì đọc: “Tôi viết Pauline !...”  Con thường nghe nói: Chị Pauline thế nào cũng sẽ đi tu; mà lúc bấy giờ thì con chả biết đi tu là gì, nhưng cũng nghĩ bụng: “Tôi cũng sẽ đi tu nữa”.  Đó là một trong những kỷ niệm xưa nhất của con, và từ đấy, con không bao giờ thay đổi ý định!...

Mẹ yêu dấu, Chúa Giêsu đã chọn Mẹ để Mẹ dâng con cho Ngài, tuy bấy giờ Mẹ không ở gần con, nhưng mối giây tình thắm thiết đã kết chặt hai tâm hồn Mẹ con ta.... bấy giờ Mẹ là lý tưởng của con, con muốn nên giống Mẹ và từ lúc con mới lên hai tuổi, gương sáng của Mẹ đã dẫn đưa con đến cùng Bạn Chí Ái của các Thánh đồng trinh...
Ôi ! còn biết bao ý nghĩ dịu dàng con muốn tỏ bày cùng Mẹ ! Nhưng thôi, con phải kể tiếp cho hết câu chuyện chiếc hoa nhỏ, vì nếu con muốn thuật lại đầy đủ chi tiết về những mối liên quan giữa con và chị “Pauline”, thì con phải gạt bỏ hết các chuyện khác !...

Chị Léonie yêu quý cũng chiếm một chỗ quan hệ trong trái tim con. Chị yêu con lắm; đến tối khi cả gia đình đi dạo mát thì chị ở nhà giữ con... Dường như bây giờ con còn nghe văng vẳng bên tai con những câu hát dịu dàng chị hát để ru con ngủ... bao giờ chị cũng tìm cách làm con vui lòng, vì thế nên con làm mất lòng chị điều gì, con cũng buồn phiền lắm.

Con còn nhớ rõ ngày chị rước lễ lần đầu [Ngày 23-5-1875 lúc ấy Têrêsa đã lên 2 tuổi rưỡi], nhất là lúc chị bồng con trên tay để đem con vào nhà cha xứ. Được chị mặc đồ trắng toát bồng con trên tay, thì thật là tuyệt quá chừng. Tối hôm ấy con phải đi ngủ sớm, vì con còn bé quá không thể dự tiệc được, nhưng đến lúc ăn tráng miệng, Ba đem cho Nữ hoàng của người mấy miếng bánh...

Hôm sau, hay là ít ngày sau gì đó, chúng con theo Má sang nhà cô bạn của chị Léonie; con nhớ hình như chính hôm đó sau bữa tiệc do bà Dagoran khoản đãi ,
[Bà Dagoran là mẹ của “cô bạn của chị Léonie”. Theo tập tục tỉnh Alencon, ông bà Martin chịu hết phí tổn về vật chất cho em bé nghèo này, trong dịp rước lễ Trọng Thể.]
 Má đưa chúng con ra sau một bức tường và cho uống rượu nho, vì Má không muốn làm phiền Ba, cũng không muốn để chúng con thiếu điều gì hết.  Ôi ! con tim của người mẹ thật là tế nhị, tìm đủ mọi cách để tỏ tình săn sóc mà không ai ngờ !

Bây giờ con phải nói đến chị Céline yêu dấu của con, chị là bạn thiết của con hồi thơ ấu, những kỷ niệm về chị thật nhiều quá, con không biết kể cách nào. Con xin trích ít đoạn trong thư Má gửi cho Mẹ, lúc Mẹ còn học ở trường Thăm viếng, nhưng con không chép hết vì như thế thì dài quá...
Ngày 10-7-1873 (năm con sinh ra) Má viết thư thế này : “Vú nuôi bồng Têrêsa đi hôm thứ năm,
[Sau khi sinh được 2 tháng, Têrêsa đau nên phải trao cho vú nuôi là Bà Rose Taille, ở nhà quê miền phụ cận tỉnh Alencon]
 nó cứ cười hoài, nhất là nó ưa con Céline, nó cười ra tiếng với con Céline; coi như nó muốn đòi chơi, mà chả bao lâu nữa đâu, giờ thì nó đã đứng thẳng như cái trục rồi, Má tưởng nó sẽ biết đi sớm và tính tình nó sẽ ngoan, coi bộ nó sáng trí và nét mặt ngộ nghĩnh lắm...”.
Nhưng con tỏ tình yêu chị Céline hơn hết là lúc con ở nhà Vú nuôi về (Thứ năm 2-4-1874). Chúng con hợp ý nhau lắm, có điều con sắc sảo hơn chị, nhưng lại không ngay thật bằng chị : mặc dầu con kém chị những ba tuổi rưỡi, mà hai đứa như cùng một tuổi.

Đoạn thư sau đây của má cho thấy chị Céline hiền lành thế nào, còn con thì tinh nghịch làm sao:
“Bản tính của con Céline thì hướng về nhân đức,  linh hồn nó trong trắng và sợ tội, còn cái con Têrêsa này không biết rồi sau sẽ ra thế nào : nó còn bé tí chưa biết suy gì hết ! Nó sáng trí hơn con Céline, nhưng lại không thùy mị bằng con Céline lấy một tí, và nhất là cứng cổ gần như bất trị ; nó đã nói “không” thì không tài nào bắt nó nhượng bộ được; giá có giam nó cả ngày dưới hầm, thì nó cũng thà nằm ngủ dưới ấy, chứ không chịu nói “có”....
“Tuy thế nó cũng có một trái tim vàng đấy, nó dễ thương và ngay thẳng lắm : cứ trông nó chạy theo má để thú tội, thì thật là buồn cười :
-Má ơi, con đẩy chị Céline một lần, con đánh chị một lần, nhưng từ nay con không làm như thế nữa, (làm cái gì nó cũng thú như thế).  Chiều hôm thứ năm, cả nhà đi dạo gần nhà ga, nó chỉ muốn vào phòng đợi, để đi tìm chị Pauline và thấy nó vui vẻ lon ton chạy đi trước mà buồn cười, nhưng khi biết phải đi về, chứ không được lên xe hỏa đi tìm chị Pauline, thì nó vừa đi vừa khóc ròng. (Thư viết cho Pauline, ngày 14-5-1876).

Đoạn cuối bức thư nhắc con nhớ lại hạnh phúc con được hưởng mỗi khi Mẹ ở trường Thăm Viếng về nghỉ : Mẹ thì bồng con, còn chị Marie thì bế Celine ; con tha hồ mà nựng Mẹ, con ngoi đầu ra sau lưng, để ngắm mớ tóc Mẹ búi thật to... rồi Mẹ cho con một tấm kẹo sôcola, Mẹ để dành từ ba tháng. Mẹ nghĩ xem con quý món quà ấy chừng nào !... Con còn nhớ chuyến đi thành Mans [Thứ hai 29-3-1875] .  Đó là lần đầu tiên con được đi xe hỏa. Được đi một mình với Má thật sướng biết bao !... Thế mà không hiểu tại sao con lại khóc và đến lúc vào thăm Dì Hai tại Mans thì con chỉ là một đứa bé vô duyên mặt đỏ như gấc và đầy nước mắt, vì mới vừa khóc dọc đường...
[Bà Marie-Dosithee (Marie-Louise Guérin), chị Cả của bà Martin, vào dòng Thăm Viếng năm 1858 hồi hai mươi chín tuổi. Khi ở trong dòng cũng như khi còn ở ngoài đời, Bà là bạn tâm trao của em gái Bà, Bà qua đời 24-2-1877]

Con không nhớ rõ những gì đã xẩy ra trong phòng khách, con chỉ còn nhớ lúc Dì Hai cho con một con chuột nhắt trắng và một cái giỏ giấy đầy kẹo, bên trên chễm chệ hai chiếc nhẫn bằng đường xinh xinh, xỏ vừa ngón tay con, con vội kêu lên : “Sướng quá ! Chị Céline cũng sẽ có một cái đây”.  Nhưng than ôi ! một tay con xách quai giỏ, còn tay kia thì nắm tay Má, cứ như thế hai mẹ con ra đi ; đi được một quãng, con ngó cái giỏ, thì kẹo đã rớt xuống đường gần hết, giống như những viên đá cuội của thằng tí hon... Con coi lại thì một chiếc nhẫn quý đã cùng chung một số phận tang thương như mấy viên kẹo kia... Thế là con chả còn gì cho chị Céline nữa... Tiếc quá ! con xin Má quay trở lại, nhưng Má làm bộ không để ý. Khổ quá ! con khóc chán rồi con lại la... Bấy giờ con không hiểu tại sao Má lại không chia sớt nỗi buồn với con, vì thế con càng đau đớn thêm...

Bây giờ con trở lại những lá thư, trong đó Má nói đến chị Céline và con, đó là cách tốt nhất để mẹ hiểu tính con ; sau đây là đoạn nói rất rõ về những nết xấu của con :
“Kìa con Céline đang chơi xếp khối vuông với con bé, thỉnh thoảng hai đứa lại cãi nhau, con Céline nhịn em, để được thể một hạt ngọc gắn vào triều thiên. Má buộc lòng phải trị cái con bé hay hờn quá này; hễ cái gì không vừa ý nó, thì nó lăn xuống đất, thất vọng như mất hết không còn gì nữa, có lúc nó hờn giỗi quá ngạt cả thở. Nó hay nóng tính, nhưng vẫn dễ thương và sáng dạ lắm, cái gì nó cũng nhớ”.
[Thư bà Martin gửi Pauline , 5-12-1875].

3-
Những kỉ niệm đầu tiên

Têrêsa viết lại những kỉ niệm khi còn nhỏ trong gia đình

Thưa Mẹ, con vừa tóm tắt mấy lời về việc Chúa nhân lành làm cho con, bây giờ con xin đi vào những chi tiết thời thơ ấu của con. Con biết rằng có những câu chuyện đối với những người khác thì tẻ nhạt, nhưng lòng mẹ thì lại thấy thích thú.
Những kỷ niệm con nhắc lại đây cũng là những kỷ niệm của Mẹ, vì qua thời thơ ấu con sống bên Mẹ, và cùng được Ba Má -  không cha mẹ nào sánh kịp, săn sóc nâng niu như nhau.
[Ông Louis Martin và Bà Zélie Guérin thành hôn ngày 13-7-1858.
Louis-Joseph-Aloys-Stanislas là con trai của Đại úy Pierre-Francois Martin, sinh ngày 2-8-1823 là con thứ ba của gia đình năm con. Đại úy về hưu tại Alencon và giáo dục con cẩn thận, về sau Louis học nghề sửa đồng hồ. Sau khi vì lý do sức khỏe không thể vào dòng được như lòng mong ước, Louis định cư tại tỉnh Alencon, đường Pont Neuf, năm 1850.
Zélie-Marie-Guérin sinh ngày 23-12-1831 tại Saint Denys-sur-Sarthon, cùng thuộc gia đình sĩ quan. Năm 1844 ông bà Guérin và ba con đến ở tại Alencon. Sau này vì không đạt được ước nguyện tu dòng và vì sinh kế cô Zelie-Marie học nghề làm ren, ở và làm việc tại số nhà 36 đường Saint Blaise (hiện nay là số 42). Sau khi thành hôn cô đến ở đường Pont-Neuf. Năm 1871 ông Martin nhường lại xưởng đồng hồ để khuếch trương xí nghiệp dệt ren, được chuyển về đường Saint-Blaise. Gia đình martin về ở chính ngôi nhà mà hai năm sau Têrêsa cất tiếng chào đời.

Ôi ! ước chi Ba Má ban phúc lành cho đứa con gái út của Ba Má, để nó ca tụng lòng Thương xót Chúa !...

Têrêsa ca tụng lòng người mẹ

Con chia truyện tâm hồn con từ bé cho tới ngày vào Dòng Camêlo thành ba giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn thứ nhất tuy vắn vỏi, nhưng không thiếu những chuyện đáng nhớ: Bắt đầu từ lúc con có trí khôn cho tới ngày Má yêu dấu về Trời.

Chúa nhân lành đã cho con có trí khôn sớm lắm, và Ngài đã ghi sâu vào tâm khảm con những kỷ niệm thơ ấu, đến nỗi những chuyện con sắp kể sau đây, con còn nhớ như vừa xảy ra hôm qua. Chắc rằng vì yêu con, Chúa Giêsu muốn cho con biết một người Mẹ khôn sánh , mà Ngài đã ban cho con, nhưng rồi lại cất về quá sớm để ban thưởng !...

Suốt đời, Chúa nhân lành đã cưng chiều con ; những kỷ niệm đầu tiên của đời con ghi đầy những nụ cười, những mơn trớn êm đềm nhất !... Nhưng nếu Chúa đặt bên con nhiều tình thương thì Ngài cũng cho con một trái tim để yêu và cảm xúc dạt dào, cho nên con yêu Ba Má biết bao và con tìm đủ mọi cách để tỏ lòng yêu Ba Má, vì hễ trong lòng có gì thì con phải bộc lộ ra ngoài. Có điều là cách con tỏ tâm tình đôi khi kỳ cục lắm, như lời Má chứng minh trong đoạn thư sau đây :
-Con bé này tinh nghịch có một, nó đến vuốt ve má và chúc má chóng chết :
-Má à ! con muốn Má chết lắm !...
Mắng nó thì nó bảo :
-Má chết để về Thiên Đàng, thế Má chả bảo con là phải chết mới được vào Thiên đàng là gì.
Lúc nào nó yêu Ba quá, nó cũng chúc Ba chết như thế !...”
[Thư bà Martin gửi cho Pauline đề ngày 5-12-1875]
(Thêm: Con láu lỉnh ấy không rời me chút nào, theo me cả ngày, và được theo như thế lấy làm sung sướng lắm, nhất là lúc nó theo me ra vườn. Khi me về, nó cũng chẳng thèm ở vườn, nó vòi cho kì được, người ta đem nó về với me mới thôi.
Lúc lên thang, cũng không chịu lên một mình, mỗi bước lại mỗi lần "me ơi,me ơi". Bao nhiêu bậc, bấy nhiêu tiếng me ơi. Mà nếu lỡ lần nào me quên trả lời "ừ con ơi" là nó đứng lì lại, không lên mà cũng không xuống nữa. ( Một tâm hồn, Kim Thiếu dịch, tr 20)

Ngày 25-6-1874, bấy giờ con chưa đầy 18 tháng. Má viết về con như sau:
“Ba con vừa dựng một cái đu, con Céline thích mê, nhưng phải nhường cho em bé đu trước; trông nó thật tức cười, nó đứng trên bàn đu như con gái lớn, chả sợ nó tuột tay nữa, nhưng nếu đu không được mạnh, thì nó kêu rống lên. Má buộc cho nó một sợi dây nữa ở đàng trước, nhưng hễ thấy nó trèo lên là má lại không yên tâm”.

“Mấy hôm rồi, em bé làm má bị một mẻ hú vía. Má thường đi lễ 5 giờ rưỡi, mấy ngày đầu má không dám đi, sau thấy nó không thức giấc bao giờ, má nhất định bỏ nó ở nhà để đi lễ. Má đặt nó trên giường của má, rồi xích cái nôi lại thật gần giường để nó không thể rớt xuống đất được.
Có một hôm má quên không xích nôi lại. Lúc về không thấy con bé nằm trên giường, vừa lúc ấy má lại nghe thấy nó kêu, má ngó xuống đất thì thấy nó ngồi trên cái ghế đặt sát đầu giường; đầu nó thì gục vào cái gối đầu rồi ngủ. Chắc là nó ngủ không ngon vì ngồi như thế mệt lắm. Má không hiểu tại sao nó lại ngã ngồi trên ghế như thế, vì má đã đặt nó nằm kia mà. Má cám ơn Chúa vì nó không bị gì cả, thật là việc Chúa Quan phòng, lẽ ra nó phải lăn xuống đất rồi, nhưng Thiên thần bản mệnh đã gìn giữ nó và các linh hồn trong luyện ngục che chở nó. Ngày nào má cũng đọc một kinh cầu nguyện cho các linh hồn, để xin gìn giữ nó. Má thì má nghĩ thế... Còn chúng con nghĩ sao ?...”
Cuối thư Má thêm :
“Con bé vừa vuốt mặt má và hôn má ! Không làm sao nó rời má ra được. Lúc nào nó cũng theo má ; nó thích ra vườn lắm, nhưng nếu má không ở ngoài ấy, thì nó cũng không chịu và khóc cho tới khi có ai đưa nó vào cho má mới thôi”.
[Thư bà Martin gửi cho hai con gái là Marie và Pauline lưu học tại trường dòng Thăm viếng ở thành Mans, ngày 256-1874].

Và đây là một đoạn thư khác :
“Hôm nọ con Têrêsa hỏi má: nó có được lên Thiên đàng không? Má bảo: có ngoan thì mới được lên. Nó trả lời :
-Vâng, nếu con không ngoan thì con phải xuống Hỏa ngục... nhưng con biết rồi, má lên Thiên đàng, con cũng bay lên với má, thì làm sao Chúa bắt được con ?... Má cứ ôm chặt lấy con nhá.
“Nhìn vào hai con mắt của nó, má biết nó tin chắc rằng: nếu nó ở trong tay má, thì Chúa cũng chả làm gì được nó ...
[Thư gửi cho Pauline đề ngày 29-10-1876).

“Marie yêu em nó lắm. Nó cưng con bé lạ lùng; dễ gì mà Marie không yêu một đứa em như Têrêsa, vì con bé sợ làm mất lòng nó quá.  Hôm qua má muốn cho con bé một bông hồng, vì má biết nó thích hoa hồng lắm, nhưng nó van má đừng cắt, vì Marie không cho, má cứ cắt cho nó hai bông, nó vui lắm, nhưng rồi sợ không dám vào nhà nữa. Má nói khéo với nó là hoa của má thì nó bảo: “Không phải, hoa của chị Marie chứ...”.
“Nó là một đứa bé rất hay xúc động. Hễ nó làm điều gì lỗi, thì ai cũng  biết . Hôm qua nó vô ý đánh rách một tí giấy dán tường, thế mà trông nó đến thảm hại, nó nhất định thú tội với Ba. bốn giờ sau, Ba con mới về, chẳng ai còn nhớ chuyện ấy nữa, thế mà nó lon ton chạy lại bảo Marie : “Chị mách Ba là em làm rách giấy đi”.  Thế là nó đứng ngay người như tội nhân chờ án quyết, nhưng nó bấm bụng là nếu thú tội thì thế nào cũng được tha”.
[Thư gửi Pauline đề ngày 21-5-1876].

(Thêm: Nhắc đến ba, con lại sực nhớ đền mấy điều rất vui. Hồi ấy
khi cha đi đâu về, bao giờ con cũng chạy ra đón, rồi ngồi lên giầy
cha. Cha cứ để con ngồi vậy mà bước đi khắp cả nhà, ra cả vườn,
đi mãi đến bao giờ con muốn thôi mới thôi. Một lần me trông thấy
phì cười và kêu cha chiều con quá. Cha trả lời :
Khốn nó là Công chúa, biết sao được.
Rồi cha ẵm con vào lòng, lại nâng lên thật cao, lại để ngồi xuống
vai mà hôn và vuốt ve mơn trớn đủ cách dấu yêu, chiều chuộng.
Tuy nhiên cũng không nói được là cha nuông con đâu. Con nhở
một lần, con đang chơi đu vui thích lắm, cha đi qua gọi con rằng:
-Công chúa cha ơi, lại hôn cha nào.
Không hiểu sao hôm ấy con không muốn lại, con đứng yên đầy
và thưa hỗn xược :
- Cha lại đây kia.
Cha đã xử rất phải: Không lại.
Chị Marie cũng đang chơi ở đấy, mắng con :
- Em mất dạy, thưa cha hỗn thế à?
Lập tức, con xuống khỏi đu, nhận mình phải mắng là quá phải.
Rồi có tiếng khóc ăn năn tội ầm ĩ cả nhà. Con lên ngay trên gác. Lần
này không dám mỗi bước lại mỗi me ơi nữa ; con chỉ để trí nghĩ đến
tìm dược cha mà làm hòa với cha. Con đã làm hòa được ngay.
Một khi con thầy mình đã làm mất lòng cha mẹ, con không thể để
thế lâu được. Sự biết nhận lỗi, đồi với con chỉ là việc trong giây phút.
Chính me đã kể rõ tính ấy trong truyện sau đây :
Có một sáng, me muốn hôn Têrêsa rồi mới xuống gác. Xem như nó
còn ngủ mệt, me không dám làm nó thức dậy; song chị Marie nó nói :
Me ơi, con chắc em giả cách ngủ đấy ! Mẹ liền cúi hôn mặt nó, nó kéo
ngay chăn lên trùm kín cả mặt rồi nói lụng bụng : "Chẳng cần ai thăm
nom con hết !". Me đã không bằng lòng cử chỉ ấy và cũng làm nó hiểu
thế. Hai phút qua, đã nghe thấy tiếng khóc, và nhanh không ngờ
quay lại me thấy nó đã đứng  bên, nó dậy một mình và đi
chân không xuống gác, lụng thụng trong chiếc áo ngủ dài hơn người. Nước
mắt đầy mặt, nó lăn vào lòng me van lơn? "Me ơi, lạy me, con láo quá,
me tha cho con nhé. Me tha ngay, me lại ôm con bé ngoan vào lòng,
ôm chặt và ôm mãi. (MTH tr 21-22)




 

THỦ BẢN TỰ THUẬT
(Bản dịch của Hương Việt, Lm.Leo Huyến và Ts. Kim type)
MB trình bày cho xuanha.net
-----------------------------

2-
Tự ngôn

THỦ BẢN GỬI TẶNG
MẸ ĐÁNG KÍNH AGNES DE JESUS

J.M.J.T  Tháng Giêng 1895.
HOA TRẮNG NHỎ KỂ CHUYỆN THƠ ẤU
ĐỂ TẶNG MẸ AGNES DE JESUS
(Thánh nữ Têrêsa H.Đ Giêsu viết Hồi kí này, ghi lại cuộc đời của mình, để tặng Pauline, người con gái thứ hai của gia đình Martin, bấy giờ đang làm Bề trên Dòng Kín Lisieux và mang tên là Mẹ Agnes de Jesus. Bà là người được Têrêsa chọn làm Má nhỏ”, hồi bà Martin mới qua đời.)
---
Têrêsa vâng lời chị và cầu nguyện cùng Đức Mẹ trước khi viết kồi kí ca tụng Lòng Thương xót Chúa đối với mình. (tiêu đề chữ đỏ của xuanha.net)

Mẹ yêu dấu, sở dĩ con viết mẩu truyện tâm hồn này là để tặng Mẹ, người đã hai lần làm Mẹ con. Hôm mẹ truyền con viết, con tưởng nếu phải làm một mình, con sẽ phân tâm nhiều, nhưng từ đó Chúa Giêsu cho con hiểu: nếu con cứ vâng lời cách đơn sơ, con sẽ làm vui lòng Ngài : vả lại việc con sắp làm, chẳng qua chỉ là bắt đầu xướng lên bài ca, mà đời đời con còn lặp lại không thôi : “Lòng Chúa Thương xót!!!”
Đó là mầu nhiệm ơn Thiên triệu của con, của cả đời con và nhất là những đặc ân Chúa Giêsu ban cho linh hồn con... Ngài không gọi những ai xứng đáng, nhưng những ai Ngài thích, hay như lời Thánh Phaolô nói: “Đức Chúa Trời dủ thương những ai Ngài muốn và Ngài xót thương những ai Ngài muốn thương xót. Vậy chẳng phải bởi công việc ai muốn hay công ai chạy, mà chỉ do Chúa thương xót.” (Roma 9,15-16).

Trước khi cầm bút viết, con quỳ gối dưới chân tượng Mẹ Maria, tượng đã bao lần minh chứng : Nữ Vương Thiên Đàng chiều chuộng gia đình ta cách đặc biệt, con khẩn khoản xin Người hướng dẫn bàn tay con, để không một nét bút nào không vừa ý Người. Thế rồi mở sách Phúc Âm, con chợt thấy những lời sau đây: “Chúa Giêsu lên trên núi, Chúa đã gọi đến với Ngài những ai Ngài yêu, và họ đã đến” (Mc, 3,13).
(Đây là tượng “Đức Mẹ mỉn cười” hiện đặt trên hòm xương Thánh của Thánh Nữ, tại nhà nguyện Dòng Kín Lisieux, tượng này do người ta tặng ông Martin trước ngày ông thành hôn, tượng vẫn theo gia đình mãi trong những cuộc di chuyển và cuối cùng đã nhập Dòng Kín với Céline)

Hai tập sổ tay Thánh Nữ thường dùng những đoạn Kinh thánh (do chị Celine và người em họ là chị Marie de l’Eucharistie chép lại). Trong đó còn có nhiều đoạn trích trong Phương ngôn, Huấn đạo, Nhã ca, Tiên tri (Nhất là tiên tri Isaia 40, 53I,67) và Khải huyền.

Têrêsa cũng dùng cuốn Gương Chúa Giêsu (bản dịch của Cha F. de Lamennais, Mame 1873) và cuốn Cantique Spirituel et la Vive Flamme d’Amour (Thánh Gioan Thánh giá, Douniol et Cie, 1875).

Têrêsa so sánh các hoa và nhận ra ơn Chúa ban cho mình

Từ lâu nay con tự hỏi: Tại sao Chúa nhân từ lại yêu riêng, tại sao ân sủng Chúa ban cho các linh hồn không đều nhau, con ngạc nhiên khi thấy Ngài ban những đặc ân phi thường cho những vị thánh đã làm phiền lòng Chúa như thánh Phaolô, Augutinô và có thể nói Chúa đã ép buộc các Thánh nhận ân sủng Chúa ban; hay là đọc truyện những vị  thánh được Chúa nâng niu từ thời lọt lòng mẹ cho tới ngày xuống mồ. Ngài cất mọi chướng ngại vật trên lối đi để không gì ngăn cản các Thánh bay lên cùng Chúa và Ngài dự phòng cho các linh hồn ấy bằng cách ban cho những ơn đặc biệt , tới nỗi các linh hồn ấy không thể làm hoen ố màu  trắng tinh của áo rửa tội.

Con tự vấn: Tại sao có biết bao người như những người mọi rợ đáng thương chẳng hạn, chết mà không hề nghe đến Tên Chúa ...

Chúa Giêsu đã thương dạy con mầu nhiệm này, Ngài đã đặt cuốn sách thiên nhiên trước mặt con, và con hiểu hoa nào Ngài dựng nên cũng đẹp cả, và hoa hồng sặc sỡ cũng như đóa huệ trắng ngần không át hương thơm của chiếc hoa  đồng thảo cỏn con, hay vẻ đơn sơ quyến rũ của bông bạch cúc... Con hiểu nếu hoa nhỏ nào cũng muốn làm hoa hồng, thì còn đâu cảnh mùa Xuân để tô điểm cho thiên nhiên, và còn đâu những đóa hoa nhỏ xíu để tô thắm cho đồng nội...

Thế giới các linh hồn là vườn cảnh của Chúa Giêsu, cũng giống như thế, Ngài muốn dựng nên những vị đại thánh ví như đóa hồng hay bông huệ. Ngài cũng đã dựng nên những vị thánh nhỏ hơn và các Đấng ấy phải vui lòng làm những bông hoa đồng thảo hay bạch cúc, an phận nằm dưới gót chân, để làm đẹp mắt Chúa. Sự thánh thiện ở tại chỗ thực hiện ý của Chúa và sống sao cho vừa ý Ngài...

Con lại hiểu tình yêu của Chúa được thể hiện nơi một tâm hồn đơn sơ nhất, không bao giờ cưỡng lại ơn Chúa, cũng như nơi những tâm hồn cao siêu nhất. Thật vậy, đặc tính của tình yêu là tự hạ mình xuống, nếu linh hồn nào cũng giống linh hồn của các vị thánh Tiến sĩ, những đấng đem giáo lý cao minh chiếu sáng trong Giáo Hội, thì ra như Chúa chưa xuống thấp đủ, khi Ngài tới viếng linh hồn họ. Nhưng Chúa đã dựng nên những trẻ nít không biết gì và chỉ bập bẹ kêu được vài tiếng oe oe. Ngài đã không ngại hạ mình xuống tận đáy lòng họ, họ là những bông hoa ngoài đồng được Chúa yêu vì đơn sơ mộc mạc.  

Hạ mình xuống thấp như thế, Chúa nhân từ tỏ ra Ngài cao cả vô cùng. Cũng vậy mặt trời vừa giãi sáng trên ngọn cây hương nam, vừa tỏa ánh hào quang trên mỗi bông hoa nhỏ, dường như cả trái đất chỉ có mình nó. Cũng thế, Thiên Chúa đặc biệt săn sóc những linh hồn như là không còn linh hồn nào khác.
Tất cả mọi sự đều đem lại lợi ích cho các linh hồn, cũng như trong thiên nhiên, bốn mùa thay đổi để cây bạch cúc hèn mọn nhất được nở hoa đúng kỳ.

Mẹ yêu dấu, chắc mẹ bỡ ngỡ tự hỏi: không biết con định viết gì, vì cho đến bây giờ con chưa nói gì có vẻ là kể chuyện đời con, nhưng mẹ đã bảo con "nghĩ gì viết nấy" chứ đừng gò bó. Con không có ý viết tiểu sử của con, nhưng con muốn ghi lại cảm nghĩ của con về những ơn lành Chúa nhân từ đã đoái thương ban cho con.
Hiện con đang sống trong một thời kỳ, mà từ đây con có thể nhìn về dĩ vãng. Bây giờ linh hồn con đã già dặn trong lò đúc của những thử thách bên trong cũng như bên ngoài.
(Têrêsa viết những dòng này vào tháng Giêng 1895, sau 7 năm tu dòng, sau cái chết của cụ Martin [29-7-1894] và sau những thử thách tiếp theo cơn bịnh của ông. Thánh Nữ cũng có ý ám chỉ những khó khăn Người gặp từ ngày vào Dòng Kín [đau khổ tinh thần, thế xác, khô khan nguội lạnh trong đời sống thiêng liêng)
  Giống như bông hoa dạn gió, con ngẩng đầu lên và thấy đời con đã ứng nghiệm lời Thánh Vịnh 22:
"Chúa là mục tử tôi, tôi chẳng còn thiếu chi. 
Ngài cho tôi nghỉ ngơi trong đồng cỏ xanh tươi.
Ngài thảnh thơi dẫn tôi đến bờ suối nước,
Ngài dìu dắt linh hồn tôi chẳng để nó mỏi mệt...
Dầu tôi bước xuống thung lũng tối tăm của tử thần
Tôi cũng chẳng sợ gì, vì lạy Chúa,
Chúa hằng ở với con [Tv 22,1-4]
Lúc nào Chúa cũng tỏ tình thương xót và nhân từ đối với con. Ngài chậm phạt, và chan chứa tình thương [Tv 22,8]. 

Mẹ ạ , chính vì thế con sẽ ca hát bên Mẹ lòng nhân ái của Chúa... Con sẽ viết để riêng tặng Mẹ câu chuyện bông hoa nhỏ  đã được Chúa Giêsu hái lấy, con sẽ nói hết sức tự nhiên, không mài giũa văn vẻ, cũng không sợ lạc đề. Lòng Mẹ bao giờ cũng hiểu con mình, mặc dù nó mới bập bẹ nói. Con chắc Mẹ sẽ hiểu và đoán được ý con, vì chính Mẹ đã uốn nắn tâm hồn con và hiến dâng nó cho Chúa Giêsu!...

Con tưởng nếu một bông hoa nhỏ biết nói, nó sẽ đơn sơ thuật lại những việc Chúa nhân lành làm cho nó mà chẳng cần giấu giếm chi. Nó không vịn lẽ khiêm tốn giả tạo để bảo rằng: mình xấu dáng, vô hương, mặt trời làm tàn màu phai sắc và giông tố bẻ gẫy thân cây, trong khi chính mình lại nhận thấy ngược lại.

Bông hoa sắp thuật lại chuyện mình sung sướng được cao rao những trìu mến Chúa Giêsu ban không cho nó. Nó biết mình chẳng có gì đáng Chúa nhìn đến và nếu có gì tốt đẹp thì cũng chỉ vì Chúa thương xót ban cho mà thôi...
Chính Chúa Giêsu đã cho nó nẩy sinh trong mảnh đất thánh thấm nhuần đầy hương trinh khiết. Chính Ngài đã đặt nó theo sau tám bông huệ trắng ngần. Vì yêu, Ngài đã muốn giữ cho bông hoa nhỏ của Ngài khỏi nhiễm hơi độc thế gian, nên cánh hoa vừa hé nở, Chúa Cứu Thế đã bứng nó đem trồng trên đỉnh đồi Camêlô [Têrêsa vào dòng Camêlo năm 15 tuổi],  nơi đây đang tỏa ngát hương thơm ngào ngạt hai bông Huệ đã nâng niu và mơn trớn nó hồi nó còn thơ...

Bảy năm trôi qua kể từ ngày bông hoa nhỏ bén rễ trong vườn của Bạn các Thánh Đồng Trinh, và giờ đây bên cạnh chiếc hoa nhỏ ấy, còn ba đóa Huệ khác đang rung cánh ngát hương thơm; xa xa một đóa huệ nữa đang triển nở dưới mắt Chúa Giêsu: còn hai cội cây tốt lành đã trổ sinh những bông hoa này thì đã vĩnh viễn hội ngộ trên Quê Trời... Ở đó hai thân gặp lại bốn bông Huệ chưa kịp nở trên trái đất này... Ôi !  Xin Chúa Giêsu đừng kéo dài thời gian lưu đầy của những bông hoa này bên bờ suối nước lạ: mong cho cành Huệ chóng được vẹn toàn trên trời.
[Trong kiểu nói bóng bẩy này, Têrêsa nhắc lại cả gia đình của mình. “Tám bông huệ” đi trước là các anh chị của Người:
-Marie Louise, sinh 22-2-1860, tức là chị Marie du Sacré-Coeur, +19-1-1940;
-Marie Pauline, sinh 7-9-1861, tức là Mẹ Agnes de Jesu, +28-7-1951;
-Marie Leonie, sinh 3-6-1863, tức là chị Francoise Therese, +16-6-1941;
-Marie –Helene, sinh 13-10-1864, +22-2-1870;
-Marie-Joseph-Louis, sinh 20-9-1866, +14-2-1867;
-Marie-Joseph-Jean-Baptiste, sinh 19-12-1867, +24-8-1868;
-Marie-Celine, sinh 28-4-1869, tức chị Geneviève de la Sainte Face et de Sainte Thérèse, +25-2-1959 {ngày qua đời do dịch giả thêm, theo tài liệu của Nguyệt san ĐMHCG tháng 5-1959};
-Marie-Mélanie-Thérèse, sinh 16-8-1870; +8-10-1870 ;
Thánh Nữ Têrêsa, “bông hoa nhỏ” tên trong sổ rửa tội là Marie-Francoise-Therese Martin sinh 2-1-1873, 11 giờ rưỡi đêm, tại đường Saint-Blaise tỉnh Alencon và rửa tội ngày 4 tháng Giêng tại nhà thờ Đức Bà {Notre Dame}.
Lúc Têrêsa viết thì “Ba bông huệ” bên cạnh người tại Carmelo là Marie, Pauline, và Céline ; xa xa một bông khác triển nở tại dòng Thăm viếng ở Caen tức là Léonie. “Hai cội cây hội ngộ vĩnh viễn” chính là Cha Mẹ Người là cụ Bà Martin qua đời hồi 28-8-1877 và Cụ Ông là Martin qua đời 29-7-1894.



NGHE RADIO CÔNG GIÁO

SỨ ĐIỆP

complex{fbig2}/Su Diep Chua Giesu,Su Diep Chua Cha,Su Diep Duc Me

SỐNG ĐẠO

complex{fbig2}/Song Dao,Cac Thanh,Guong Sang,Cau Nguyen

ĐIỀM BÁO

complex{fbig2}/Dau Chi Thoi Dai,Dau Hieu Thoi Cuoi,Diem Bao

GIÁO HỘI

complex{fbig2}/Tin Giao Hoi,Vatican,Giao Hoang

CHIA SẺ

complex{fbig2}/Suy Tu,Chia Se,Suu Tam

ĐỜI SỐNG

complex{fbig2}/Tong Hop, Suc Khoe, Doi Song

NGHE

complex{fbig2}/Audio, Bai Giang, Am Nhac

XEM

complex{fbig2}/Video, Thanh Ca,

ẢNH

[Duc Giao Hoang][gallery2]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.